Habermas: Thất bại rực rỡ của những bậc trí giả
Tác giả: Thomas Schmid
Biên dịch: Tôn Thất Thông
Triết gia Jürgen Habermas muốn mang lại sức nặng cho ý tưởng về một hình thái xã hội dựa trên sự tương giao chứ không phải quyền lực. Cuối đời, tư duy của ông dường như rơi vào ngõ cụt. Nhưng tại sao mọi chuyện không đơn giản như vậy?
***
Có lẽ không ai tin tưởng vào phương Tây một cách kiên định và không lay chuyển như Jürgen Habermas. Toàn bộ các tác phẩm đồ sộ của ông có thể được hiểu là một nỗ lực lớn lao duy nhất nhằm giúp lý tính phương Tây – vốn được nuôi dưỡng từ nhiều nguồn cội – cuối cùng cũng đạt được sự đột phá, nếu không muốn nói là chiến thắng. Giờ đây, Jürgen Habermas, một nhà tư tưởng luôn can thiệp vào thời cuộc cho đến tận phút cuối, đã qua đời ở tuổi 96. Và thế giới hiện tại hoàn toàn không mang lại ấn tượng rằng kỷ nguyên của lý tính toàn cầu đã bắt đầu.
Người ta có thể đi đến kết luận rằng Habermas đã thất bại với tư duy của mình. Điều đó có lẽ không hoàn toàn sai. Nhưng nếu ông có thất bại, thì đó là thất bại ở một tầng rất cao. Một tầng mà trên đó, ông vượt xa nhiều người tự coi mình là những nhà thực tế. Có những thất bại thảm hại của kẻ khờ, và có những thất bại rực rỡ của những bậc trí giả.
Habermas, sinh năm 1929 tại Düsseldorf và lớn lên ở Gummersbach, không thường xuyên nói về những động lực trong tiểu sử cuộc đời mình. Như thể ông tự cấm mình kể chuyện. Nhưng chắc chắn rằng Thế chiến thứ hai là trải nghiệm gốc rễ định hình nên ông. Chàng thanh niên ấy, vừa mới là thành viên của Đoàn thanh niên Hitler (HJ), đã chứng kiến sự sụp đổ của tất cả các giá trị vừa mới có hiệu lực vào năm 1945. Đồng thời, dưới hình hài của những binh lính chiếm đóng Mỹ, ông thấy một sự phóng khoáng chưa từng biết đến, điều chắc hẳn đã ấn tượng ông sâu sắc đến mức trong suốt phần đời còn lại, ông ưa thích diện phong cách giản dị (casual) của các đại học Mỹ.
Habermas có tài năng trong việc can thiệp, kể cả vào chính trị thời sự. Ở tuổi 24, ông đã viết một bài báo gây tiếng vang về sự dính líu đến Đức quốc xã của triết gia Martin Heidegger, người mà lúc đó ông vẫn còn gần gũi về mặt tư tưởng. Habermas có lẽ đã có thể trở thành một nhà tranh luận sắc sảo, nhưng ông đã chọn con đường đi vào chiều sâu. Cuốn sách đầu tiên và cho đến nay vẫn thành công nhất về doanh số của ông viết về “Sự thay đổi cấu trúc của công chúng” (Strukturwandel der Öffentlichkeit). Ở đây đã đặt nền móng cho những gì ông triển khai sau này: Một nền Cộng hòa không thể thành công nếu thiếu đi một không gian công chúng phản biện và mang tính thảo luận. Hay có thể nói: thiếu đi cuộc đối thoại không bao giờ ngắt quãng về các vấn đề công cộng.
Cuộc đối thoại này và những người tham gia nó, chứ không phải nhà nước và các tác nhân của nó, mới là hạt nhân của một nền Cộng hòa khai sáng. Ngay từ đây đã rõ: Habermas dù đã được các bậc thầy Horkheimer và Adorno cảnh báo kỹ lưỡng về sự thất bại mang tính thế kỷ của lý tính dưới bàn tay Quốc xã, và ông cũng không ảo tưởng về cơ hội của một nền dân chủ thảo luận trong kỷ nguyên truyền thông đại chúng, nhưng ông vẫn kiên định một cách đáng kinh ngạc vào lý tưởng của các câu lạc bộ đọc sách và tranh luận khai sáng của thế kỷ 19.
Tại Frankfurt vào những năm 60, Habermas nhanh chóng trở thành ngôi sao mới của “Trường phái Frankfurt”. Trường phái này đặc trưng bởi một sự bi quan lịch sử được trình bày bằng giọng điệu trau chuốt, và vì thế bị triết gia Georg Lukács chế giễu là “Khách sạn bên bờ vực thẳm”. Habermas đã kéo “khách sạn” đó ra xa khỏi vực thẳm một quãng dài. Dù lúc đó ông tự coi mình là một người theo chủ nghĩa Marx, nhưng ông không chia sẻ luận điểm cũ của Max Horkheimer rằng thế giới tư bản – và cả thế giới của Đức quốc xã – bị thống trị bởi một “lý tính công cụ” (Instrumentelle Vernunft) bao trùm tất cả. Thế giới phức tạp hơn thế.
Do đó, ông tìm hiểu xã hội học Mỹ với những nỗ lực khác nhau để nắm bắt sự phát triển của các xã hội công nghiệp hiện đại. Và từ sớm, ông đã không còn tin vào một ý tưởng vốn luôn là “thánh kinh” đối với những người theo chủ nghĩa Marx: rằng nhà nước, luật pháp, công chúng chỉ là thượng tầng kiến trúc. Habermas dành cho chúng một đời sống riêng, một quyền hạn riêng, nhiều hơn mức mà Adorno đã làm theo cách phức tạp của mình. Hơn thế nữa: một quyền hạn tiềm năng lớn hơn, và về nguyên tắc, là một sức mạnh lớn hơn.
Vì Habermas là một người cánh tả, ông từng có một hình dung khá lệch lạc về nhà nước mà Adenauer và những người khác đã gây dựng. Ông coi đó là một sự thành lập mang tính phục hồi, thiếu ý tưởng. Ông cho rằng hầu hết các quyết định chiến lược là sai lầm và tham gia vào “Chiến dịch chống lại cái chết nguyên tử”. Trong một thời gian dài, ông đã không nhận ra rằng Adenauer, với chính sách gắn kết phương Tây, với ưu tiên tự do trước thống nhất và với kinh tế thị trường, đã đi đúng hướng. Và rằng Adenauer, về cơ bản dù không tự nguyện, là một người cách mạng của xã hội mở. Trong những thập kỷ cuối đời, Habermas đã nhiều lần viết về sự hòa giải nội tâm này với nền Cộng hòa Adenauer. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ nói rõ rằng mình – cũng như Enzensberger, Grass, Jens và nhiều người khác – đã đơn giản là sai lầm khi phản đối nước Đức liên bang (Tây Đức) đang tồn tại thực tế lúc bấy giờ.
Horkheimer và Adorno, những “vị thánh” của Trường phái Frankfurt, vào cuối những năm 60 đã tìm mọi cách tránh né một cách lúng túng việc đối mặt trực tiếp với những sinh viên nổi loạn. Habermas thì không. Ông kiên nhẫn tham gia vào các cuộc tranh luận kéo dài hàng giờ trong nhà ăn (Mensa) của Đại học Frankfurt, chịu đựng những tràng đả kích tuyên truyền và lăng mạ (“Laberhas” – thỏ nói suông). Để rồi, tay đút túi quần và cúi người trên micro, ông không ngừng kêu gọi cho lý tính, sự thực tế và những mục tiêu có thể đạt được.
Sau đám tang của sinh viên Benno Ohnesorg bị cảnh sát Tây Berlin bắn chết, năm 1967 tại Hannover đã diễn ra đại hội “Đại học và Dân chủ” trước công chúng đông đảo. Tại đó đã xảy ra cuộc đấu khẩu giữa Rudi Dutschke và Habermas. Dutschke, người lúc đó bảo vệ chính sách hành động bạo lực, đã hét vào mặt Habermas: “Thưa Giáo sư Habermas, chủ nghĩa khách quan vô hồn của ông đang bóp nghẹt chủ thể cần được giải phóng.” Habermas đáp lại lời cáo buộc đó – một cáo buộc vốn mang tính gia trưởng kỳ lạ – bằng lời cảnh báo về một “chủ nghĩa phát xít cánh tả”. Sau này ông đã rút lại lời nói đó với sự hối tiếc. Nhưng sự dũng cảm của ông khi chống lại những khẩu hiệu của phong trào 68 vẫn còn đó. Ngay cả khi ấy, đối với ông, cốt lõi vẫn là vấn đề thực tiễn và cuộc đối thoại.
Jürgen Habermas tiếp cận thế giới một cách có hệ thống. Dù ngày nay ông được coi là một tượng đài trí tuệ thế kỷ với khối lượng tác phẩm khổng lồ – Thủ tướng Đức trong tuyên bố về sự ra đi của Habermas đã dùng một cụm từ táo bạo và đẹp đẽ rằng triết gia là “một ngọn hải đăng giữa biển khơi giông bão“. Tuy nhiên, sự nghiệp đồ sộ của Habermas, vốn không ngừng lớn mạnh, ngày nay lại hiện lên như một cái cây khổng lồ gây ấn tượng bởi chiều cao, nhưng lại đứng lẻ loi và xa lạ một cách kỳ lạ trong bối cảnh chính trị và thảo luận hiện nay.
Điều này trở nên đặc biệt rõ nét trong một trong những tác phẩm chính của ông, “Lý thuyết về hành động tương giao” (Theorie des kommunikativen Handelns). Trong đó, ông cố gắng biến một định đề khai sáng căn bản, bắt nguồn từ chiều sâu tư duy châu Âu, thành ý tưởng chủ đạo: Trong một nền Cộng hòa tốt đẹp, các quyết định chính trị không được đưa ra từ trên xuống, mà phải nảy sinh từ sự trao đổi tự do giữa công dân và các đảng phái.
Sự cưỡng bách không cưỡng bách
Theo cách diễn đạt đầy mê hoặc, đó là “sự cưỡng bách không cưỡng bách của lập luận tốt hơn”. Đây là một chủ nghĩa tối đa dựa trên ý tưởng mà người ta có thể lấy làm định hướng, nhưng lại không tương thích với bất kỳ thực tế nào. Người ta có thể và nên mong muốn các lập luận tốt hơn có sức nặng hơn. Nhưng việc đặt một nền dân chủ đại chúng hiện đại với sự phân công lao động vào “bể tắm” của sự thảo luận là một ý tưởng không khả thi trong thực tế. Habermas có lẽ nhận thức rõ điều đó, nhưng ông kiên quyết từ chối hạ thấp tiêu chuẩn của mình. Theo nghĩa này, ông vẫn đứng trong truyền thống của chủ nghĩa duy tâm Đức: một thái độ cho rằng nếu thực tế không đáp ứng được lý tưởng, thì đó là lỗi của thực tế. Với sự kiên trì, Jürgen Habermas đã xây dựng ngôi nhà tương giao chi phối tất cả của mình. Sự tuyệt đối hóa việc đặt giao tiếp vào trung tâm sự nghiệp – như ông đã thừa nhận muộn màng – cũng liên quan đến khuyết tật ngôn ngữ mà ông đã phải chịu đựng suốt đời.
Một trong những điều kỳ lạ trong tư duy của Habermas là nó thường xuyên rời bỏ con đường của sự không cưỡng bách để trở nên độc đoán. Trước những ý kiến phản biện và quan điểm khác biệt căn bản, Habermas thường phản ứng một cách bác bỏ đầy quyền uy. Ông đã gạt phăng một cách thô bạo những triết gia như Michel Foucault, những người không còn muốn cho phép lý tính ngồi trên ngai vàng. Với những nhà tư tưởng tin rằng khó có thể xây dựng một nhà nước dựa trên sự đồng thuận bằng những lập luận thuyết phục, ông đã không tranh luận một cách nghiêm túc. Và trong “Cuộc tranh luận của các nhà sử học” (Historikerstreit) những năm 80, cuộc tranh luận vốn sẽ không tồn tại nếu thiếu ông, ông đã ngăn chặn nỗ lực xóa bỏ tính duy nhất của thảm họa Holocaust bằng cách viện dẫn hệ thống Gulag. Tuy nhiên, đồng thời, chính ông cũng giữ thái độ xem nhẹ chủ nghĩa Stalin vốn vẫn phổ biến trong phe cánh tả lúc bấy giờ.
Về cuối đời, Habermas đã tôn vinh sự gắn kết phương Tây và liên minh xuyên Đại Tây Dương. Đối với ông, đây là một sự đảm bảo, một chiếc ô bảo vệ vĩnh cửu. Vì thế, ông đã phản ứng đầy bàng hoàng trước sự xuất hiện của Donald Trump trên chính trường Mỹ và đặc biệt là thế giới. Trump đối với ông là một sự lệch chuẩn đầy khiêu khích so với quy tắc, so với niềm tin rằng những người cha lập quốc của Mỹ đã thiết lập các quy tắc dân chủ một cách ràng buộc và vĩnh viễn. Giống như hầu hết những người khác, ông cũng đánh giá thấp yếu tố bạo lực, thứ vốn đã trở nên quan trọng ở Mỹ không phải chỉ từ thời Tổng thống Reagan như ông khẳng định. Nếu như Trump thể hiện sự tiếp nối của nước Mỹ, ông chỉ thấy đó là sự đứt gãy.
Nhà sử học Heinrich-August Winkler trong một tác phẩm đồ sộ đã cố gắng mô tả con đường dài của Đức tiến về phương Tây như một con đường đi qua những ngả rẽ và thảm họa nhưng cuối cùng cũng đạt tới đích. Tương tự, Habermas cố gắng mang lại sức nặng cho ý tưởng về một hình thái xã hội dựa trên tương giao chứ không phải quyền lực. Chẳng hạn như trong những đóng góp của ông về sự thống nhất châu Âu, nơi ông yêu cầu châu Âu trở thành một nhà nước. Và ông thể hiện rất ít sự nhạy bén cũng như thấu hiểu đối với những công dân châu Âu vốn không hề muốn điều đó. Habermas mạnh ở những nguyên tắc cơ bản. Những phản đối của những người sống trong những điều “không cơ bản” đối với ông là xa lạ, thậm chí có lẽ ông còn không muốn biết đến chúng.
Với cuộc tấn công của Nga vào Ukraine năm 2022 và sự tái đắc cử của Donald Trump năm 2025, thế giới quan của Jürgen Habermas đã bị lung lay. Những người kế tục ông sẽ tìm ra những lập luận để giải thích tại sao không phải như vậy. Nhưng sự thật vẫn là có một hố ngăn cách khổng lồ giữa sự ưu tiên tuyệt đối của Habermas dành cho chính trị thảo luận và sự thật không thể chối cãi rằng bạo lực, chủ nghĩa quyết định (decisionism) và sự phi lý đã và sẽ tiếp tục cùng định đoạt dòng chảy của thế giới. Habermas đã không thể đối phó với điều đó.
Mặc dù chính ông đã trải nghiệm rằng chính bạo lực của phe Đồng minh mới cuối cùng chấm dứt được chế độ của Hitler, ông vẫn không cho rằng việc hỗ trợ Ukraine trong cuộc chiến sinh tồn bằng nhiều vũ khí nhất có thể là đúng đắn. Ông đặt cược vào đàm phán, vào đối thoại. Và ông đã sai lầm khi coi Putin là một chính trị gia có thể tính toán được, người cuối cùng sẽ di chuyển trong biên giới của vương quốc tương giao theo kiểu Habermas.
Jürgen Habermas đã muộn màng công nhận nước Đức liên bang và về tổng thể là hệ thống chính trị của nó. Có lẽ vì ông đã tiếp nhận niềm tin này một cách chậm chạp và miễn cưỡng nên nó càng ăn sâu bám rễ. Sức mạnh mà ông dùng để bám giữ “dự án hiện đại chưa hoàn tất” thật đáng ngưỡng mộ. Hiếm có ai nghiêm túc như ông với ý tưởng rằng sự Khai sáng, ngay cả sau những sụp đổ của thế kỷ 20, cuối cùng vẫn có thể giành chiến thắng. Niềm tin này gần như mang tính tôn giáo. Giống như việc Habermas trong những năm cuối đời đã công khai “nhạy cảm siêu hình” của mình. Chẳng hạn như trong một cuộc tranh luận với Joseph Ratzinger, nơi ông nói rằng truyền thống tôn giáo, không chỉ của Kitô giáo, nếu được giải phóng khỏi sự đóng băng giáo điều, có thể “tỏa ra một sức mạnh truyền cảm hứng cho toàn xã hội”.
Alexander Kluge, rõ ràng bị chấn động trước cái chết của người bạn Jürgen Habermas, đã viết rằng trước một thế giới rạn nứt, lý thuyết và triết học phải “trở lại xưởng làm việc của mình”, giờ đây không còn Habermas. “Tôi không tin rằng”, Kluge tiếp tục, “ông ấy để lại cho chúng ta sự nản lòng và vô vọng. Thay vào đó, vấn đề là sự ‘phản sản xuất’ (Gegenproduktion) trong một thế giới đầy hiểm nguy.”
./.
Nguồn:
Thomas Schmid từng tham gia phong trào sinh viên tại Frankfurt khi còn ở độ tuổi đôi mươi, điều này khiến ông sau đó luôn cảnh giác với những học thuyết cứu rỗi và biết trân trọng tự do công dân hơn. Ông là biên tập viên, tác giả tự do và nhà báo. Gần đây nhất, ông đảm nhiệm vị trí Tổng biên tập và sau đó là Nhà xuất bản của tập đoàn truyền thông “Welt” tại Berlin.
Trên blog cá nhân, ông thường xuyên đăng tải các bài bình luận, tiểu luận, đánh giá về các cuốn sách mới, sách cũ và cả những cuốn sách cổ, cũng như các bài điếu văn và đặc biệt là những quan sát về cuộc sống thường nhật.
Trở về trang chủ
Xem thêm các bài viết và dịch của Tôn Thất Thông


