Trang chủ » HOA KỲ, TRUNG QUỐC và đấu trường Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (tiếp theo)

HOA KỲ, TRUNG QUỐC và đấu trường Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (tiếp theo)

Tháng Bảy 2021
H B T N S B C
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Tìm chuyên mục

ĐIỀU TRẦN TRƯỚC ỦY BAN THƯỢNG VIỆN VỀ THƯƠNG MẠI, KHOA HỌC VÀ GIAO THÔNG, QUỐC HỘI HOA KỲ – Thứ sáu, 31-07-2020 (Phần II – cuối)

Tác giả: Rush Doshi
Người dịch: Lê Nguyễn

Ghi chú của biên tập viên: Rush Doshi điều trần trước Ủy ban Thương mại, Khoa học và Vận tải của Thượng viện Hoa Kỳ về sự cần thiết phải điều chỉnh lại các chính sách kinh tế của Hoa Kỳ để xây dựng khả năng phục hồi và khả năng cạnh tranh trước thách thức Trung Quốc.

(Xem Phần I ở đây)

Phần II

III. KHUYẾN NGHỊ CHO CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ

1. Thu thập Thông tin cho Chiến lược kinh tế

Quốc hội Hoa Kỳ nên xem xét việc thành lập một tổ chức có thể kiểm toán chuỗi cung ứng của Hoa Kỳ và đưa ra các yêu cầu báo cáo chặt chẽ về chuỗi cung ứng cho ngành công nghiệp.Trung Quốc đã thể hiện việc sẵn sàng sử dụng vị trí quan trọng của mình trong các chuỗi cung ứng hiện đại làm đòn bẩy chống lại các quốc gia khác. Nếu Hoa Kỳ có hiểu biết kém tinh vi hơn về các chuỗi cung ứng toàn cầu so với Trung Quốc, thì nước này sẽ không có đủ vị thế để chống lại, hoặc giúp các đồng minh chống lại những nỗ lực này. Hơn nữa, như đại dịch gần đây đã cho thấy, chính phủ liên bang thường không biết, cho đến khi quá muộn, về mức độ phụ thuộc của một số ngành công nghiệp quan trọng (như ngành dược phẩm hoặc sản xuất PPE) vào hàng nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước khác. Vì vậy, Hoa Kỳ cần thông tin đáng tin cậy về chuỗi cung ứng trong và giữa các ngành. Các nỗ lực đã được thực hiện để kiểm toán chuỗi cung ứng trong các khoáng sản quan trọng và vật tư y tế nên được mở rộng sang một loạt các ngành công nghệ cao và quan trọng.[36] Thực thể này có thể được phép tự mình hoặc được sự hỗ trợ bởi các cơ quan thống kê kinh tế khác, bao gồm Cục Điều tra dân số Hoa Kỳ, Cục Phân tích Kinh tế của Bộ Thương mại hoặc Ủy ban Thương mại Quốc tế, trong số những cơ quan khác.

Cục điều tra dân số Hoa Kỳ nên khởi động lại và mở rộng chương trình Báo cáo công nghiệp hiện tại của mình: Các báo cáo này được lập hàng năm cung cấp thông tin phong phú và chi tiết về các ngành công nghiệp của Hoa Kỳ và tạo ra các nhóm cá nhân có kiến ​​thức sâu, các viện chuyên môn của từng ngành. Thông tin đó sẽ rất cần thiết cho việc xây dựng và thực hiện các chiến lược nhằm thúc đẩy khả năng phục hồi và khả năng cạnh tranh của Hoa Kỳ, thu hút lại các công ty, tạo an toàn cho chuỗi cung ứng, đảo ngược quá trình suy giảm công nghiệp hóa và cạnh tranh với Trung Quốc. [37]      

Chính phủ Hoa Kỳ nên thực hiện kiểm tra độ căng thẳng chuỗi cung ứng của các công ty trong các ngành công nghiệp quan trọng. Sự gia tăng của sản xuất đúng lúc (just-in-time) và sản xuất tinh gọn (lean production) đã làm giảm lượng hàng tồn kho trong chuỗi cung ứng, để lại ít “sự chùng xuống” trong hệ thống khi đối mặt với sự ép buộc bởi kinh tế nước ngoài, thiên tai hoặc các cú sốc của các chuỗi cung ứng khác. Cũng giống như Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu bắt buộc kiểm tra độ căng thẳng đối với các ngân hàng sau cuộc khủng hoảng tài chính, kiểm tra độ căng thẳng chuỗi cung ứng  liên quan đến nỗ lực xác định thời gian một nút cụ thể trong chuỗi cung ứng có thể tái hoạt động sau cú sốc cung ứng và thời gian có thể phục hồi chức năng bình thường. [38]

2. Điều phối Chính sách và Chiến lược Kinh tế

Quốc hội Hoa Kỳ nên xem xét việc ủy ​​thác một chiến lược quốc gia bốn năm về khả năng cạnh tranh và khả năng phục hồi. Chính phủ Hoa Kỳ đã công bố một loạt các báo cáo chiến lược hàng năm, bao gồm Đánh giá Quốc phòng Bốn năm (nay là Chiến lược Quốc phòng), Đánh giá Phát triển và Ngoại giao Bốn năm, Đánh giá Năng lượng Bốn năm, Đánh giá An ninh Y tế Quốc gia Bốn năm, và khoảng một tá  kế hoạch chiến lược cho các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ, trong số các nỗ lực khác. Giáo sư Luật thuộc Đại học Vanderbilt, Ganesh Sitaram đã đề xuất một nỗ lực tương tự cho khả năng cạnh tranh của Hoa Kỳ. Tài liệu và quá trình soạn thảo nó có thể giúp tạo ra sự chú ý lâu dài đối với giới lãnh đạo kinh tế và công nghệ của Hoa Kỳ, gắn kết các cơ quan khác nhau và buộc phải suy nghĩ lâu dài về các xu hướng trong nước và quốc tế. [39]

Quốc hội Hoa Kỳ nên xem xét các mô hình khác nhau có thể tích hợp các cơ quan kinh tế khác nhau của chính phủ Hoa Kỳ và đảm bảo các cách tiếp cận phối hợp để cạnh tranh và khả năng phục hồi:Khi Đài Loan tìm cách phục hồi các chuỗi cung ứng có trụ sở tại Trung Quốc, chính phủ đã tạo ra một “cơ sở một cửa” ở một bộ trong số các bộ của mình cho mục đích đó, do đó hợp lý hóa sự tham gia của doanh nghiệp với chính phủ Đài Loan và đảm bảo sự chú ý kịp thời, toàn diện và đặc biệt chú ý đến các thách thức khác nhau mà từng công ty phải đối mặt. Các chính phủ khác theo đuổi chính sách công nghệ hoặc chính sách công nghiệp cũng tích hợp một loạt các cơ quan kinh tế trong các văn phòng đặc nhiệm hoặc thậm chí toàn bộ các bộ. Các cách tiếp cận tương tự có thể được xem xét trong chính phủ Hoa Kỳ. Ở khía cạnh khiêm tốn, những cách tiếp cận này có thể liên quan đến các văn phòng, bao gồm các quan chức kinh tế từ nhiều cơ quan khác nhau với một nhiệm vụ cụ thể và đặc trưng, chẳng hạn như hồi hương công ty hoặc đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Như học giả Geoffrey Gertz của Viện Brookings đã lưu ý, cơ quan phục vụ thương mại Hoa Kỳ nên hỗ trợ cho các công ty về xuất khẩu trong khi các thực thể khác lo việc thu hút đầu tư của nước ngoài [40]. Các thực thể tương tự có lẽ có thể được tạo ra để tập trung vào việc thu hút lại các công ty hoặc vào việc đa dạng hóa. Về mặt mở rộng, một số người như Giáo sư Ganesh Sitaram đề xuất, điều này có thể liên quan đến việc tổ chức lại và tinh giản các cơ quan kinh tế của Hoa Kỳ để thực hiện tốt hơn “chính sách công nghiệp” hoặc chiến lược quốc gia về khả năng cạnh tranh và khả năng phục hồi, với các biện pháp bảo vệ mạnh mẽ, đảm bảo trách nhiệm giải trình và tránh bị động. [41]

3. Thúc đẩy Thế mạnh của Mỹ trong Nhập cư và R&D

Quốc hội Hoa Kỳ nên tạo điều kiện thuận lợi cho người nhập cư có tay nghề cao đến Hoa Kỳ: Sự cởi mở của Hoa Kỳ là một sức mạnh to lớn, từ lâu đã cho phép Hoa Kỳ thu hút những bộ óc nước ngoài giỏi nhất, để củng cố khả năng khoa học và công nghệ của mình. Các phòng thí nghiệm của Hoa Kỳ, đi đầu trong cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, phần lớn phụ thuộc vào các sinh viên tốt nghiệp từ nhiều quốc gia. Ví dụ, khoảng 80% sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật điện và khoa học máy tính là công dân nước ngoài. [42] Hầu hết những người này thích ở lại Hoa Kỳ sau khi hoàn thành bằng cấp của họ – với phần lớn ở lại một thập kỷ sau khi tốt nghiệp – mặc dù, ngày càng có nhiều người không thể làm được như vậy. [43]Tương tự, các công ty Mỹ cũng dựa vào tài năng nước ngoài, để lấp đầy những thiếu hụt trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, mặc dù tổng số thị thực nhập cảnh đó đã được giới hạn kể từ năm 2005 là 85.000, chỉ 20.000 dành cho những người có trình độ sau đại học. [44]Cần có những cải cách, để đảm bảo rằng Hoa Kỳ có thể tiếp cận với những tài năng công nghệ cao tốt nhất trên thế giới. Theo một báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Georgetown về An ninh và Công nghệ mới nổi, Quốc hội Hoa Kỳ nên (1) nâng giới hạn đối với thị thực nhập cảnh H1-B; (2) tự động cấp thẻ xanh (miễn thẻ xanh) cho những người có bằng sau đại học, đặc biệt là trong STEM (science, technology, engineering, and mathematics) ; (3) cạnh tranh với thị thực nhập cảnh việc làm dành riêng cho sinh viên quốc tế sau tốt nghiệp của Canada; (4) tạo ra một chương trình thị thực nhập cảnh cho sinh viên tốt nghiệp doanh nhân muốn thành lập công ty sau khi tốt nghiệp; (5) hệ thống hóa chương trình Đào tạo Thực hành Tùy chọn theo quy chế, trong số các chính sách khác. [45]

Quốc hội Hoa Kỳ nên tăng chi tiêu cho R&D của liên bang lên gấp 4 lần để theo kịp với Trung Quốc, và nó phải đảm bảo mức tăng vượt ra ngoài lĩnh vực khoa học đời sống. Chi tiêu cho R&D của liên bang đã giảm trong nhiều thập kỷ. Tính theo tỷ lệ phần trăm GDP, chính phủ liên bang Hoa Kỳ chỉ chi 0,61% GDP cho R&D – tỷ lệ này là một trong những mức thấp nhất trong bảy mươi năm, thấp hơn mười cường quốc khoa học khác và thậm chí còn thấp hơn cả kinh phí trước Sputnik. Hơn nữa, một nửa chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển của liên bang chỉ dành cho khoa học đời sống. [46]Mặc dù đúng là doanh nghiệp đã đóng góp đáng kể vào chi tiêu cho R&D của Hoa Kỳ, đặc biệt là trong nghiên cứu ứng dụng, nhưng nghiên cứu cơ bản thường đến từ chính phủ liên bang và trong lịch sử đã hình thành nền tảng cho những đột phá lớn – bao gồm radar, máy tính và năng lượng hạt nhân. [47] Một ví dụ gần đây hơn, như nhà kinh tế học Jonathan Gruber lưu ý, Quốc hội đã chi 3 tỷ đô la ở thời kỳ đầu những năm 80 để lập bản đồ bộ gen người. Khoản đầu tư đó đã thúc đẩy ngành công nghiệp gen, tạo việc làm cho chừng 280.000 người ở Hoa Kỳ và tạo ra khoản thuế 6 tỷ đô la hàng năm. [48]Trong khi  chi tiêu cho nghiên cứu của chính phủ Mỹ giảm, Trung Quốc đang tăng nhanh và có thể vượt quá 2,5% GDP trong những năm tới. Vì lý do đó, việc chi tiêu cho nghiên cứu của liên bang tăng gấp đôi hoặc gấp ba lần, sẽ cho phép chúng ta theo kịp Trung Quốc và sẽ khôi phục để đưa chúng ta về mức từng thấy vào những năm 1960.

4. Cải cách để kích thích lập kế hoạch dài hạn và cạnh tranh

Quốc hội Hoa Kỳ nên xem xét các biện pháp chống độc quyền để xây dựng khả năng phục hồi của Hoa Kỳ trong các ngành công nghiệp quan trọng:Khả năng phục hồi thực sự đòi hỏi phải đảm bảo rằng Hoa Kỳ có một số đối thủ cạnh tranh khả thi trong bất kỳ ngành nào, đặc biệt là những ngành thiết yếu đối với sức khỏe và an ninh của Hoa Kỳ. Ở vị trí tiên phong hàng đầu đổi mới, các công ty thường đặt cược vào sự tiến bộ của công nghệ trong tương lai, một số chứng minh có tiên đoán đúng và một số chứng minh là sai lầm. Khi chỉ còn lại một nhà vô địch quốc gia trong một ngành nhất định, cái giá phải trả của việc đặt cược sai có thể gây thiệt hại cho nền kinh tế rộng lớn hơn và cho sự lãnh đạo công nghệ của đất nước. Ngược lại, khi có nhiều công ty hoạt động trong một ngành quan trọng, khả năng một công ty đặt cược đúng và duy trì vị trí lãnh đạo của đất nước trong ngành đó, sẽ lớn hơn rất nhiều. Khi cấu trúc thị trường đôi khi làm phức tạp các nỗ lực đảm bảo cạnh tranh, Quốc hội có thể hỗ trợ các đối thủ cạnh tranh yếu hơn,[49] Kinh nghiệm từ trước đến nay cho thấy sự cạnh tranh giữa các công ty hàng đầu trong các ngành thiết yếu này có nhiều khả năng tạo ra giá thành thấp hơn, sản phẩm chất lượng cao hơn, khả năng phục hồi công nghiệp và đổi mới lớn hơn – tạo lợi thế cho Hoa Kỳ so với các đối thủ cạnh tranh áp dụng chủ nghĩa thương mại trọng thương, bằng nhà vô địch quốc gia hàng đầu này.

Quốc hội Hoa Kỳ nên xem xét các cải cách khu vực tài chính và chính sách thuế nhằm giảm bớt chủ nghĩa ngắn hạn của các doanh nghiệp Hoa Kỳ và khuyến khích tập trung vào việc ra quyết định dài hạn: Cuộc cách mạng cổ đông của những năm 1980 đã gây ra sự tập trung vào lợi nhuận trên vốn gây thiệt hại cho việc thiết lập kế hoạch dài hạn. Hầu hết cổ phần của chứng khoán được nắm giữ  ngắn hơn một năm trong thời gian hiện nay so với tám năm trước kia, trong thời điểm những năm 1950. Nhiệm kỳ của CEO hiện gần đạt mức thấp nhất lịch sử khoảng 5 năm; và áp lực tạo ra lợi nhuận tài chính thường không khuyến khích cho các ngành sản xuất so với các hoạt động kinh doanh sinh lợi khác. Những nỗ lực nhằm điều chỉnh “chủ nghĩa ngắn hạn” đã được thể chế hóa của thị trường vốn Hoa Kỳ, sẽ khó khăn và gây tranh cãi, nhưng một số giám đốc điều hành nổi tiếng như Giám đốc điều hành JPMorgan Chase, Jaimie Dimon và Giám đốc điều hành Berkshire Hathaway, Warren Buffet đều công khai ủng hộ. Như Michael Brown, Eric Chewning và Pavneet Singh lưu ý trong một báo cáo hồi tháng 4 từ Viện Brookings, Quốc hội có thể khuyến khích việc tạo ra các chỉ số tiêu chuẩn mới, bao gồm khung thời gian dài hơn cũng như chính sách thuế khuyến khích nắm giữ các vị thế vốn chủ sở hữu có thời gian dài hơn.[50]

5. Nỗ lực quốc tế với các bên liên quan có cùng quan điểm và các tổ chức chính

Quốc hội Hoa Kỳ nên khuyến khích sự hợp tác nghiên cứu khoa học cơ bản lớn hơn giữa Hoa Kỳ với các đồng minh và đối tác quan trọng của họ, cùng nhau họ sẽ có chi tiêu nhiều hơn hai lần so với Trung Quốc.Nghiên cứu khoa học cơ bản đã là một nỗ lực quốc tế ngày càng tăng, và hợp tác khoa học Mỹ-Trung ngày càng phổ biến. Nhưng trong khi Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện nay chi số tiền gần như tương đương cho R&D, tổng chi tiêu kết hợp của Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Ấn Độ, Pháp và Anh lại vượt xa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Quốc hội Hoa Kỳ nên nới lỏng một số trở ngại giữa người với người để có sự hợp tác nhiều hơn giữa các đồng minh và đối tác (ví dụ, chính sách thị thực nhập cảnh) đồng thời khuyến khích các tổ chức nghiên cứu khoa học cơ bản tham gia nhiều hơn với các đồng minh và đối tác. Sự lan tỏa rộng rãi hơn trên các kênh đồng minh và đối tác có thể giúp làm sắc bén hơn lợi thế công nghệ của Mỹ, cho phép quốc gia này hưởng lợi từ những người khác. Hơn nữa, quan hệ đối tác chính thức có thể liên quan đến nỗ lực “thiết lập các tiêu chuẩn và giá trị xung quanh việc chia sẻ dữ liệu, tính minh bạch, tái sản xuất và tính toàn vẹn trong nghiên cứu,” như lập luận của Trung Tâm nghiên cứu  Georgetown về An ninh và Công nghệ mới nổi. [51]     

Quốc hội cần hỗ trợ các nỗ lực thúc đẩy các cách tiếp cận phối hợp trong nước và đa phương để thiết lập tiêu chuẩn:Trong khi nhiều cơ quan thiết lập tiêu chuẩn thường bao gồm các công ty chứ không phải các quốc gia, nỗ lực từ trên xuống của Trung Quốc để hình thành các tiêu chuẩn đòi hỏi phải có sự phản hồi từ chính phủ Hoa Kỳ. Điều này đặc biệt cấp bách trong thời điểm các quy trình thiết lập tiêu chuẩn có thể mở đầu cho các mô hình mới trong các ngành công nghiệp quan trọng, bao gồm viễn thông (ví dụ: O-RAN, Open Radio Access Network) và internet vạn vật, có thể định hình cho tương lai lâu dài. Thứ nhất, Quốc hội có thể hỗ trợ thành lập các nhóm làm việc liên ngành về các tiêu chuẩn có thể phối hợp trong nội bộ. Ví dụ: OSTP (The White House Office of Science and Technology Policy)  có thể thành lập một nhóm làm việc liên ngành về các tiêu chuẩn công nghệ, tập hợp các bộ Ngoại giao, Thương mại, Tư pháp và Quốc phòng cũng như cộng đồng tình báo Hoa Kỳ và NIST (the U.S. National Institute of Standards and Technology) – và nhóm này cũng tham vấn với các ngành công nghiệp Hoa Kỳ. [52]Thứ hai, để xây dựng liên minh giữa các công ty và quốc gia khác nhau, Quốc hội có thể hỗ trợ việc thành lập các văn phòng trong các Bộ Thương mại và Ngoại Giao để phối hợp các phương pháp tiếp cận của Hoa Kỳ với các bên liên quan cùng chí hướng. [53]

./.

NGUỒN:

Về tác giả Rush Doshi: Là cựu chuyên gia của viện Brookings. Giám đốc  Sáng kiến Chiến lược Trung Quốc của Brookings và là thành viên trong Chính sách Đối ngoại của Brookings. Ông cũng là thành viên ở Trung tâm Paul Tsai Trung Quốc của Trường Luật, Đại học Yale và là  thành viên của lớp khai giảng cho các nghiên cứu sinh lớp Wilson Trung Quốc,( viện nghiên cứu Wilson được thành lập năm 1968 bởi Quốc Hội Hoa Kỳ để tưởng nhớ cố Tổng Thống Woodrow Wilson). Nghiên cứu của ông tập trung vào đại chiến lược của Trung Quốc cũng như các vấn đề an ninh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ông hiện đang phục vụ trong chính quyền Biden.

Xem thêm: Những bài viết / dịch của Lê Nguyễn

GHI CHÚ:

[36] Geoffrey Gertz, “Làm thế nào để giảm cân bằng”, Chính sách đối ngoại, ngày 24 tháng 7 năm 2020, https://foreignpolicy.com/2020/07/24/how-to-deglobalize/ và Nedal T. Nassar và cộng sự, “Đánh giá khoáng sản rủi ro cung cấp hàng hóa của khu vực sản xuất Hoa Kỳ, ” Science Advances 6, 0. 8 (2020), https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7035000/ . Ngoài ra, hãy xem văn bản của Đạo luật về Viện trợ, Cứu trợ và An ninh Kinh tế (CARES) của Coronavirus trên trang web của Viện Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia: https://www.nationalacademies.org/ocga/public-laws/coronavirus-aid-relief-and-economic-security-cares-act

[37] “Danh sách toàn diện các khuyến nghị của Ủy ban,” từ Báo cáo năm 2019 cho Quốc hội của Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Hoa Kỳ-Trung Quốc (Washington, DC: Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Hoa Kỳ-Trung Quốc, 2019), https://www.uscc.gov/sites/default/files/2019-11/2019%20Recommendations%20to%20Congress.pdf , 538.

[38] David Simchi-Levi và Edith Simchi-Levi, “Chúng ta cần kiểm tra độ căng thẳng cho các chuỗi cung ứng quan trọng”, Tạp chí kinh doanh Harvard, ngày 28 tháng 4 năm 2020, https://hbr-org.cdn.ampproject.org/c/s/hbr.org/amp/2020/04/we-need-a-stress-test-for-critical-supply-chains . Cũng xem Gertz, “Làm thế nào để giảm cân bằng.”

[39] Ganesh Sitaraman, “Về cấu trúc đại lý”, American Compass, ngày 10 tháng 6 năm 2020, https://americancompass.org/essays/on-agency-osystem/ .

[40] Geoffrey Gertz, “Làm thế nào để giảm cân bằng” , Chính sách đối ngoại , ngày 24 tháng 7 năm 2020, https://foreignpolicy.com/2020/07/24/how-to-deglobalize/ .

[41] Ganesh Sitaraman, “Về cấu trúc đại lý”, American Compass, ngày 10 tháng 6 năm 2020, https://americancompass.org/essays/on-agency-osystem/ .

[42] “Tầm quan trọng của Sinh viên Quốc tế đối với Khoa học và Kỹ thuật Hoa Kỳ”, National Foundation for American Policy, tháng 10 năm 2017, http://nfap.com/wp-content/uploads/2017/10/The-Importance-of-International-Students.NFAP-Policy-Brief.October-20171.pdf

[43] Boris Granovskiy và Jill H. Wilson, “Sinh viên STEM nước ngoài ở Hoa Kỳ,” Dịch vụ Nghiên cứu Quốc hội, ngày 1 tháng 11 năm 2019, https://crsreports.congress.gov/product/pdf/IF/IF11347 . Báo cáo lưu ý rằng, “Theo cuộc khảo sát năm 2017 của Quỹ Khoa học Quốc gia về những người nhận bằng tiến sĩ STEM từ các IHE của Hoa Kỳ, 72% người nhận bằng tiến sĩ nước ngoài vẫn ở Hoa Kỳ 10 năm sau khi nhận bằng. Tỷ lệ phần trăm này thay đổi theo quốc gia xuất xứ; ví dụ, sinh viên tốt nghiệp STEM từ Trung Quốc (90%) và Ấn Độ (83%) ở lại với tỷ lệ cao hơn sinh viên châu Âu (69%). ”

[44] Ely Ratner và cộng sự, Vượt lên thách thức Trung Quốc: Đổi mới năng lực cạnh tranh của Mỹ ở Ấn Độ – Thái Bình Dương (Washington, DC: Trung tâm An ninh mới của Mỹ, 2020), https://www.cnas.org/publications/reports/rising-to-the-china-challenge

[45] Remco Zwetsloot et al., Giữ cho Nhân tài AI hàng đầu ở Hoa Kỳ: Các phát hiện và các lựa chọn chính sách để giữ chân sinh viên sau đại học quốc tế (Washington, DC: Trung tâm An ninh và Công nghệ mới nổi, 2019), https://cset.georgetown.edu/wp-content/uploads/Keeping-Top-AI-Talent-in-the-United-States.pdf , 29-35.

[46] James Pethokoukis, “Chi tiêu cho nghiên cứu của liên bang Hoa Kỳ đang ở mức thấp nhất trong 60 năm. Chúng ta có nên lo lắng không ?, ”American Enterprise Institute, ngày 11 tháng 5 năm 2020, https://www.aei.org/economics/us-federal-research-spending-is-at-a-60-year-low-should-we-be-concerned/

[47] M. Anthony Mills và Mark P. Mills, “Khoa học trước Chiến tranh”, Atlantis Mới (Mùa đông 2020), https://www.thenewatlantis.com/publications/the-science-before-the-war .

[48] James Pethokoukis, “Jonathan Gruber về khoa học đột phá khởi đầu và phục hồi tăng trưởng kinh tế: Câu hỏi và đáp đã đọc từ lâu”, American Enterprise Institute, ngày 3 tháng 6 năm 2019, https://www.aei.org/economics/johnathan-gruber-on-jump-starting-breakthrough-science-and-reviving-economic-growth-a-long-read-qa/

[49] Matt Stoller, Goliath: Cuộc chiến 100 năm giữa quyền lực độc quyền và nền dân chủ (New York: Simon & Schuster, 2019).

[50] Michael Brown, Eric Chewning và Pavneet Singh, “Chuẩn bị cho Hoa Kỳ cho cuộc thi Marathon siêu cường với Trung Quốc,” Viện Brookings, tháng 4 năm 2020, https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2020/04/FP_20200427_superpower_marathon_brown_chewning_singh.pdf

[51] Alison Snyder, “Đồng minh có thể thay đổi cán cân quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc”, Axios, ngày 18 tháng 6 năm 2020, https://www.axios.com/scientific-research-expenditures-america-china-743755fe-3e94-4cd3-92cf-ea9eb1268ec2.html

[52] Ely Ratner và cộng sự, Vượt lên thách thức Trung Quốc: Đổi mới năng lực cạnh tranh của Mỹ ở Ấn Độ – Thái Bình Dương (Washington, DC: Trung tâm An ninh mới của Mỹ, 2020), https://www.cnas.org/publications/reports/rising-to-the-china-challenge

[53] Lindsay Gorman, “Hoa Kỳ cần phải tham gia vào trò chơi tiêu chuẩn — Với nền dân chủ có tư duy”, Lawfare, ngày 2 tháng 4 năm 2020, https://www.lawfareblog.com/us-needs-get-standards-game%E2%80%94-minded-democracies