Trang chủ » HỌC TẮC (BÀI 1)

HỌC TẮC (BÀI 1)

Tháng Một 2026
H B T N S B C
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Tìm chuyên mục

Thư viện

Tác giả: Ogyu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

BÀI 1

Cần phải thông thạo ngôn ngữ cổ đại để hiểu đúng đạo thánh nhân tức đạo Khổng

Ở Nhật Bản đã không có thánh nhân xuất hiện. Ở các nước phía Tây của Trung nguyên cũng vậy. (Trung nguyên là vùng trung và hạ của lưu vực Hoàng Hà được xem là nơi khởi nguồn hình thành văn hóa Trung Hoa). Do đó chỉ có các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc là phương tiện để giáo dục. Ở (thời) cổ đại nước Sở (ở phía Nam của Trung nguyên, thuộc lưu vực Trường Giang) là 1 quốc gia to lớnn hưng sách vở để học tập của quan Tả Sử tên Ỷ Tương倚相chỉ có sách Tam Phần, Ngũ Điển, Cửu Khưu, Bát Sách(1). Ngoài ra không còn có kinh sách nào khác có thể xem là sách để học tập.

Vào thời sau đó, có những nhân vật ưu tú như Trần Lương(2), học giả nước Sở lại còn muốn học văn hóa của Trung nguyên ở phương Bắc, còn như người Nhật Bản thì đi đâu để học đây!? Dù cho có muốn đi nước khác để học nhưng lại gặp vấn đề ngôn ngữ khác nhau, nghe tiếng nước ngoài giống như vua nước Lỗ đem âm nhạc thanh nhã để tiếp đãi chim biển viên cư (3)(nghĩa là nghe không hiểu gì hết).Đối với người đi học, ngôn ngữ của nước đến học nghe giống như tiếng chim hót, và ngược lại ngôn ngữ của người đến học đối với người địa phương cũng tương tự. Do đó, dù Khổng tử cùng Tử Lộ có đi bè đến Nhật Bản(4) để giảng đạo cũng không có ích lợi gì!

Khi xưa ông Kibi no Makibi吉備真備(695~775)(5)đã đi học ở Trung quốc. Ông đã tạo ra phương pháp Hòa huấn(6)để đọc hiểu Hán văn và truyền dạy cho người nước ta (tức Nhật Bản).

Phương pháp này cũng giống như dùng chữ 㝅thay cho chữ nhũ乳, chữ於菟thay cho chữ hổ(7). Ngoài ra, bởi vì thứ tự của động từ, túc từ trong tiếng Trung quốc và tiếng Nhật khác nhau nên phải đảo ngược thứ tự đọc mới có thể hiểu được. Về âm đọc thì phương pháp này dùng cả 2 cách đọc theo âm của tiếng Trung quốc (onyomi) và cách đọc theo âm của tiếng Nhật (kunyomi) (8)tùy theo từ vựng.Bằng phương pháp này người Nhật có thể hiểu được ý nghĩa nội dung của tiếng Trung quốc.

Nếu người Nhật nghe người Trung quốc đọc nội dung của sách thì giống như nghe tiếng chim hót, không hiểu nội dung gì cả nhưng khi đọc sách có Hòa huấn thì có thể hiểu được ý nội dung mà sách muốn truyền đạt. Bằng phương pháp trên, nội dung giảng dạy của các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc được truyền đạt vào Nhật Bản. Đó là nhờ công lao của ông Makibi mà ngày nay ít người biết đến.

Nhờ phương pháp Hòa huấn, các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc không còn là ngôn ngữ của Trung quốc nữa. Dù Khổng tử và Tử Lộ có đến Nhật Bản thì (người Nhật Bản chúng ta) nếu thấy sách thì biết ngay là kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc nhưng nghe 2 ông nói thì không hiểu gì hết, giống như đem âm nhạc mà tiếp đãi chim viên cư.

Có người nói khi lật ngược con cá kiểng (cảnh) để xem mặc dù bên trái và bên phải của mặt trước và mặt sau của cá trái ngược nhau nhưng tổng thể vẫn là 1 con cá như nhau. Do đó, họ cho rằng đọc Hán văn bằng Hòa huấn cũng tương tự, không có vấn đề gì. Họ không biết rằng ở Trung quốc không có loài voi sinh sống nên người Trung quốc phải tưởng tượng ra để vẽ(9)(ý nói hạng người có chí hướng nhỏ, hạn hẹp nên không nghĩ đến việc to lớn quan trọng hơn). Ở phía Bắc của Dương Tử Giang (ý nói ở Trung nguyên) không có loài cây quất橘 (tachibana) nên người Trung nguyên dùng cây chỉ枳(karatachi) để thay thế (10). Do đó khi đọc tác phẩm của Khuất Nguyên(11), hầu như không có ai đọc mà không mắc phải cảm nhận khác biệt tế nhị (nuance) của tác phẩm cứ tưởng hương vị của hoa trái của cây chỉ là của cây quất cũng như cho rằng voi trong tranh vẽ là voi thật. Đó là 1 vấn đề mà ít ai để ý đến.

Trường hợp những thứ có ở Trung quốc nhưng không có ở nước ngoài (như Nhật Bản) không phải cũng tương tự sao? Các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc viết bằng ngôn ngữ Trung quốc mà chúng ta lý giải bằng ngôn ngữ của chúng ta, chẳng phải cuối cùng kinh Thư giống như điệu múa của người Nam Man, và lễ nhạc giống như âm nhạc của người Di Địch sao?(Ý nói văn hóa nghệ thuật của nước văn minh bị xem hoặc bị hiểu hoặc được cảm nhận như văn hóa nghệ thuật của các nước chưa văn minh)

Cố chấp vào “con của “phó mặc”và cháu “lạc tụng(12) mà quên đi cội nguồn xuất phát(ý nói chỉ biết nội dung của Hòa huấn không biết đến nguyên văn) thì không có lẽ nào chính xác được. Huống chi “con của “phó mặc” và cháu của “lạc tụng” là trường hợp “nghĩ là con của họ Doanh嬴nhưng thật ra là con của họ Lã呂” (13) chứ không như trường hợp của con minh linh 螟蛉 giống như con quả lỏa蜾蠃 (con tò vò)(14).

Cứ học mãi bằng phương pháp Hòa huấn, thì dù có viết chữ Hán đẹp đầy trang giấy người Trung quốc đọc cũng không hiểu (vì không hiểu văn phạm của tiếng Trung quốc và cách diễn tả nội dung sự vật của người Trung quốc nên viết không đúng).Người Nhật đọc cũng không thể hiểu được (vì đã quen với Hòa huấn nên khi không có thì đọc không hiểu).

Nếu cứ dùng phương pháp Makibi mới hiểu được thì giống như ngụy biện của cổ đại cho rằng cá mắc lưỡi câu vì lưỡi câu có râu (15), ếch có đuôi vì nòng nọc có đuôi (16). Làm như vậy thì các kinh sách có Hòa huấn sẽ thành các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc của Makibi viết ra chứ không phải là các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc của Trung quốc. Do đó, nếu xảy ra trường hợp Hòa huấn chú thích sai nội dung thì tai hại của cách đọc này còn to lớn hơn đọc nguyên văn không hiểu gì cả.

Như vậy phải nên làm sao?

Xem ra trước hết phải bắt đầu từ việc ý thức rằng có sự khác biệt của ngôn ngữ. Phương pháp Hòa huấn của Mabiki có thể dùng như phiên dịch Hán văn sang tiếng Nhật nhưng không thể đọc nguyên văn lên thành tiếng để truyền đạt đến người khác. Dùng mượn phương pháp này tạm thời trong một khoảng thời hạn ngắn thì được nhưng nếu dùng dài hạn thì sẽ trở nên câu nệ vào nó.Phương pháp này giống như dụng cụ để bắt cá, khi được cá rồi nên bỏ dụng cụ đi. Không dùng miệng và tai mà chỉ dùng mắt và tâm để đối thoại và suy nghĩ, suy nghĩ rồi lại suy nghĩ tiếp nhiều lần thì tinh thần tâm trí tự nhiên sẽ thông suốt. Làm như vậy thì mặc dù Thư, Thi, Lễ, Nhạc viết bằng ngôn ngữ Trung quốc nhưng chúng ta nghe biết nội dung bằng mắt, đối với những gì có ở Trung quốc thì hiểu là chỉ có riêng ở nước của họ, còn những gì của Nhật Bản thì hiểu là ở Nhật Bản, nghĩa là phân biệt rõ ràng những gì có ở Nhật Bản và những gì không có ở Nhật Bản. Nếu thực hiện đúng phương pháp thì có thể áp dụng cho bất cứ dân tộc nào và chí hướng hoặc ý nguyện của mọi người trên thế giới sẽ thông suốt với nhau chứ không chỉ hạn hẹp riêng ở Đông phương của chúng ta. Khổng tử và Tử Lộ có dùng bè đến Nhật Bản thì có lẽ cũng giống như gặp gỡ trò chuyện với nhau cả ngày lẫn đêm.Như vậy dù có nói rằng thánh nhân đã xuất hiện ở Nhật Bản cũng không là điều dối trá. Đó lại nội dung tôi cho là học tắc (nguyên tắc để học đạo thánh nhân).

Ngoài ra, tôi muốn lập lại lời cảnh giác ở đây.Chính những ai không bắt chước lập trường của Mabiki mới thật là người thật sự bắt chước Mabiki. (Ý Sorai muốn nói có đọc nguyên văn của Thư, Thi, Lễ, Nhạc thì mới hiểu đúng nội dung của đạo thánh nhân, và bởi vì mục đích của Mabiki muốn học đúng đạo thánh nhân mới bỏ công đi học ở Trung quốc.). Này các anh, như vậy tại sao phải cần dùng mãi phương pháp Hòa huấn mà không cố gắng học tập cách đọc trực tiếp nguyên văn?

Tóm tắt ý quan trọng

 Có những thứ ở đất nước của tác giả có nhưng không có ở đất nước của dịch giả nên chưa hẳn nội dung của phiên dịch chính xác hoặc diễn tả hết ý muốn truyền đạt của tác giả. Do đó để hiểu chính xác nội dung của nguyên tác cần phải thông thạo ngôn ngữ và cách diễn tả sự vật của dân tộc mà tác giả sinh sống.

Nguyễn Sơn Hùng, Dịch xong ngày 3/1/2026, Xem lại và bổ sung ngày 7/1/2025

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

Nhận xét

(1) Bài này phê phán khuyết điểm phương pháp Hòa huấn có nhiều điểm quá đáng và dài dòng, đồng thời mượn rất nhiều từ trong các sách cổ điển khác. Để dịch sát và đúng mất rất nhiều thời giờ mặc dù người dịch đã tham khảo sách chú giải và sách dịch ra tiếng Nhật hiện đại.

(2) Chủ trương của Sorai cho rằng dù là cùng 1 ngôn ngữ nhưng cách dùng và cách hiểu thay đổi theo thời gian và không gian là xác đáng. Do đó, để hiểu đúng nội dung lời của Khổng tử, trước hết cần phải tổng hợp nghĩa của chữ, từ vựng chính yếucách dùng chúng trong các lời nói của ông trong sách Luận Ngữ. Ngoài ra cũng nên xem xét thêm các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc (riêng kinh Nhạc ngày nay không còn tồn tại), Xuân Thu. Tuy nhiên cũng nên lưu ý trong các kinh sách có những phần có thể do người đời sau thêm vào. Kế đến cũng cần xem xét các tác phẩm của các nhân vật cùng thời với Khổng tử như Lão tử, Quản tử, Yến tư, Liệt tử v.v…. Đáng tiếc là hình như đến nay chưa có ai làm công việc này.Ngày nay Wikisource trên Internet có công bố nguyên văn của các kinh sách cổ điển và máy tính lại có chức năng “search” (tìm) rất tiện lợi để làm công việc này. Đây cũng có thể là đề tài thú vị và hữu ích cho nghiên cứu tự do của học sinh trung học phổ thông (cấp 3) hoặc cho các sinh viên đại học làm luận án tốt nghiệp.(3) Ngoài ra các vật hoặc khái niệm hoặc từ vựng có trong quốc gia của nguyên tác nhưng không có ở trong quốc gia của dịch giả đưa đến khó khăn lớn để tìm từ ngữ thích hợp tương ứng đề phiên dịch, cũng là điều đáng lưu ý khi đọc sách phiên dịch nhưng trong thực tế rất khó phát hiện! Thí dụ từ 躾 shitsuke là từ đặc biệt của tiếng Nhật, mặc dù có hình thức viết chữ Hán nhưng do người Nhật Bản đặc thêm ra, Trung quốc không có chữ Hán này.

Do đó theo người dịch từ “chuyển ngữ” hiện nay được nhiều người dùng để chỉ nghĩa của “phiên dịch” hoàn toàn không thích đáng để chỉ việc làm của các dịch giả. Bởi vì phiên dịch không phải chỉ đơn giản chuyển ý nghĩa của chữ, từ của ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác 1 cách máy móc. Đặc biệt trường hợp chữ Hán có rất nhiều nghĩa và đôi lúc cùng 1 chữ có 2 nghĩa đối chọi, đối nghịch nhau, 1 nghĩa thuộc bên tốt, 1 nghĩa thuộc bên xấu. Thí dụ chữ loạn亂/乱có nhiều nghĩa trong đó có nghĩa như: (i) làm cho lộn xộn, rối ren, mất trật tự, ngăn nắp, (ii) làm cho yên ổn, trị yên(dân chúng). Thí dụ, trong Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh giải nghĩa của từ “loạn thần”亂臣: Kẻ bầy tôi làm loạn (rebelles)”. Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức giải thích “loạn thần亂臣: Kẻ bầy tôi phản vua: Loạn thần mưu cướp ngôi vua.” Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học giải thích “loạn thần: Kẻ bầy tôi nổi dậy chống lại vua.”Trong khi đó, trong chương 20 của thiên 8 Thái Bá sách Luận Ngữ viết “Thuấn hữu thần ngũ nhân, nhi thiên hạ trị.  Vũ Vương viết: “Dư hữu loạn thần thập nhân”.”Nghĩa như sau: Vua Thuấn có 5 bề tôi mà cả nước yên ổn. Vua Võ nói: “Ta có 10 bề tôi quản lý (trị) dân yên/tốt)”. May mắn nhờ có Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu và Đại Tự Hán-Việt của Trần Văn Chánh giải thích nghĩa (ii) của chữ loạn mới hiểu được câu của Vũ vương nói!Khi viết đến đây, người dịch tra từ điển tiếng Nhật và ngạc nhiên khi thấy từ điển Nhật Bản ghi cả 2 nghĩa trên của từ “loạn thần”!

Ghi chú

(1) Quan Tả Sử Ỷ Tương có trong mục Chiêu Công 12 Niên của sách Xuân Thu Tả Thị Truyện. Tả Sứ là chức hầu bên cạnh vua hoặc chư hầu ghi chép lại các việc làm của vua hoặc chư hầu. Trong Tả Truyện viết, Sở vương đánh giá Ỷ Tương hiểu rõ các sách Tam Phần, Ngũ Điển, Bát Sách và Cửu Khưu.

Tam Phần三墳 là sách của 3 vị đế vương thời thượng cổ của Trung Quốc: Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế, gọi là tam hoàng.

Ngũ Điển五典là sách của 5 vị đế vương tiếp theo: Thiếu Hạo少昊, Chuyên Húc顓頊, Đế Cốc帝嚳, Nghiêu堯, Thuấn舜, gọi là ngũ đế.

(Về các nhân vật được xem là tam hoàng và ngũ đế thì có nhiều thuyết giải thích hơi khác nhau)

Bát Sách八索là sách giải thích bát quái(được cho là do Phục Hy lập ra) trong kinh Dịch.

Cửu Khưu九丘: Đời vua Vũ sau vua Thuấn, thiên hạ được chia làm 9 châu州, Cửu Khưu là sách địa chí (viết về thiên nhiên và nhân văn) của 9 châu.

Tuy nhiên, các sách trên hiện nay không còn; ở thời của Ỷ Tương các sách này chắc cũng là sách giả. Theo Sorai, chỉ học các sách này cũng không đạt đến mức độ của các kinh Thi. Thư, Lễ, Nhạc do các thánh nhân đặt ra.

(2) Trần Lương là nhân vật ngưỡng mộ đạo của Chu công và Khổng tử muốn đi Trung nguyên để học và được Mạnh tử khen ngợi trong bài 4 chương 5 Đằng Văn Công thượng, sách Mạnh Tử.

(3) Viên cư 爰居là tên của 1 loài chim biển có trong phần Lỗ Ngữ của sách Quốc Ngữ, viết lịch sử thời Xuân Thu của Trung quốc cổ đại. Chim này bay đến đậu ở Đông môn của nước Lỗ. Trong thiên Chí Lạc sách Trang Tử viết truyện ngụ ngôn: vua nước Lỗ xem trọng loài chim biền này nên sai người đem thức ăn ngon và âm nhạc thanh nhã đến tiếp đãi nhưng chim vẫn buồn rầu không ăn uống gì và 3 ngày sau thì chết. (Ghi chú: trong Trang Tử chỉ dùng từ “hải điểu”)

(4) Dựa theo nội dung chương 6 thiên 5 Công Dã Tràng sách Luận Ngữ:

Tử viết: “Đạo bất hành. Thừa phu phù vu hải, tòng ngã giả, kỳ Do dư?”

Dịch của Nguyễn Hiến Lê: Khổng tử nói: “Đạo của ta không thi hành được, ta sẽ cưỡi bè vượt biển (đi nước ngoài, có thể trỏ Triều Tiên) người theo ta có lẽ là anh Do chăng?

(5) Trong ngyên văn viết là Hoàng Bị 黄備để tránh kỵ úy với các Tướng quân tên綱吉, 吉宗.

(6) Hòa huấn: phương pháp dùng tiếng Nhật viết nhỏ bên cạnh chữ Hán để phiên nghĩa và dùng ký hiệu để chỉ thứ tự đọc các chữ trong câu chữ Hán; giống như dùng chữ Nôm để phiên Hán văn của nước ta ngày xưa. Nhờ phương pháp này mà người Nhật có thể đọc hiểu Hán văn.Phương pháp này được xác lập dần dần từ thời Heian nhưng từ xưa cho rằng Makibi là người đầu tiên đặt ra.

(7) Trong mục Tuyên Công Tứ Niên của sách Xuân Thu Tả Thị Truyện ghi chép tiếng địa phương của nước Sở dùng 㝅(không biết âm Hán Việt là gì!)để chỉnhũ乳(sữa), dùng ư thỏ於菟(ư: ở, tại; thỏ: tên 1 loại cỏ,) để chỉ hổ虎 (cọp). Ở đây dùng để chỉ âm đọc nói lên nghĩa chứ không phải giải thích nghĩa trực tiếp.

(8) Một thí dụ của onyomikunyomi. Đối với chữ Hán san/sơn山, âm onyomi(tức âm Hán – Hòa, tương ứng âm Hán – Việt) là“san”, âm mà người Nhật nghe từ âm tiếng Trung quốc “shān”, và âm kunyomi là “yama” là âm của tiếng Nhật, tương ứng với âm tiếng Việt của “san/sơn” là “núi”.

(9) Trong chương 20 Giải Lão sách Hàn Phi Tử có câu viết nội dung: “người đời hiếm thấy con voi lúc sống nên xem xét xương cốt của nó để vẽ ra và nghĩ đó là voi sống, và mọi người đều cho đó là con voi”. Trong thư gửi cho Yabu Shinan 藪震庵(1689~ 1744) khi đề cập về vấn đề Hòa huấn, Sorai viết: Hơn nữa, ở Trung quốc không có voi nên người ta vẽ ra để truyền đạt nên “tượng象 (con voi)” là tượng (kèm với bộ nhân)像 (hình vẽ, giống).”

(10) Trong chương Nguyên Đạo Huấn sách Hoài Nam Tử, Khảo Côn Ký sách Chu Lễ, Nội thiên Tập hạ sách Yến Tử Xuân Thu có ghi chép nội dung này.

(11) Trong tác phẩm Cửu Chương九章của Khuất Nguyên屈原(người nước Sở, TCN 343~TCN 278) có bài Quất Tụng橘頌 (nghĩa là ca tụng cây quất).

(12) Sorai dùng lời trong câu nói của Nhữ Vũ trả lời câu hỏi Nam Bá Tử Quỳ “Đạo học được không?” viết trong chương Đại Tôn Sư của sách Trang Tử. Nguyên văn: “Văn chư phó mặc chi tử, phó mặc chi tử văn chư lạc tụng chi tôn聞諸副墨之子,副墨之子聞諸洛誦之孫” (Dịch của Nguyễn Hiến Lê: Tôi học được của con của mực (viết); con của mực (viết) là cháu của sự đọc sách). Tự điển tiếng Nhật giải thích “phó mặc副墨” là sách viết bằng chữ, “lạc tụng洛誦” là đọc đi đọc lại. Trong khi đó 2 giáo thụ Taichirô và Masahide giải thích “Phó Mặc” và “Lạc Tụng” là tên của 2 nhân vật không tưởng trong sách Trang Tử. Sorai dùng “phó mặc” để chỉ phiên âm đọc tiếng Nhật của chữ Hán và “lạc tụng” để chỉ các ký hiệu hướng dẫn thứ tự đọc chữ Hán trong thư ông viết cho Yabu Shinan.

(13) Trong Lã Bất Vi Liệt Truyện của sách Sử Ký có ghi nghi vấn phải chăng Tần Thủy hoàng thật sự là con của Lã Bất Vi và Triệu Cơ.

(14) Minh linh螟蛉 một thứ sâu bám vào dâu nuôi tằm. Trong kinh Thi, phần Tiểu Nhã có bài Tiểu Uyển trong đó có câu螟蛉有子、蜾蠃負之 minh linh hữu tử, quả lỏa phụ chi (tạm dịch: sâu xanh sinh con, tò vò cõng trên lưng). Tục truyền, sâu xanh được tò vò nuôi dưỡng, cõng trên lưng vànói rao lên là giống mình.

(15) Mượn câu trong chương Bất Cẩu sách Tuân Tử :“câu hữu tu鉤有須”.

(16) Mượn câu trong chương Thiên Hạ sách Trang Tử: “丁子有尾” (丁子: 1 loại ếch)

Bản đồ của Trung quốc vào thời Chiến Quốc (TCN 403~TCN 221)
(Nguồn: Trung Quốc Toàn Bộ Bách Sự Điển, 2013)

Tài liệu tham khảo

  •  Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
  •  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.