Trang chủ » HỌC TẮC (Bài 6)

HỌC TẮC (Bài 6)

Tháng Ba 2026
H B T N S B C
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

Tìm chuyên mục

Thư viện

ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO TIÊN VƯƠNG
Tác giả: Ogyu Sorai
Biên dịch: Nguyễn Sơn Hùng

Phàm lệ

Tựa của bài, tiểu mục và tóm tắt ý quan trọng do người biên dịch thêm vào để dễ theo dõi và lập mục lục chi tiết hoặc tóm tắt nội dung cả tác phẩm.

Người biên dịch cố gắng chú thích các trích dẫn để quý độc giả hiểu rõ thêm ý muốn truyền đạt và mức độ học rộng của Sorai và biết thêm nội dung sơ lược các sách cổ điển khác.

***

Thế nào là thái độ của người quân tử?

Người quân tử không khinh suất bỏ mặc làm ngơ con người, và đối với ngay cả con vật hoặc đồ vật cũng không khinh suất bỏ mặc làm ngơ. Nhờ đó họ thành tựu được sự vĩ đại của mình. Sự vĩ đại của người quân tử cũng có ở việc họ chú ý đến sự việc ngay từ lúc sự việc bắt đầu manh nha (mọc mầm).

Sự vật, sự việc trên đời phần lớn phát sinh, tiến hành, phát triển do sự kết nối lẫn lộn của nhiều thứ. Từ hỗn tạp biến thành có thứ bậc, văn vẻ (tạp dĩ thành văn) (1); âm dương tương kết không ngừng (âm dương tương nhưng陰陽相仍) để biến chuyển chớ không cố định một chỗ. Nói tỉ dụ giống như sợi dây thừng được hình thành bằng những sợi chỉ xoay quấn với nhau, cương và nhu quấn bọc thành nhiều tầng lớp không bao giờ hết. Giống như thân cây chuối Nhật (bashô芭蕉)có nhiều lớp vỏ bao bọc, hết lớp này đến lớp khác. Do đó, người quân tử không quyết định thái độ từ đầu đối với cả điều phải lẫn điều trái, cả điều thiện lẫn điều bất thiện.(2)

Đạo thánh nhân xem trọng những gì?

Đại khái người lẫn vật không được nuôi dưỡng đúng xấu, không được đặt vào chỗ thích đáng cũng là xấu (ác). Ngược lại, nuôi dưỡng cho trưởng thành rồi đặt vào chỗ thích đáng tất cả đều là tốt (thiện).

Đem con người ở chung với lang sói, trộn cao lương chung với lúa gạo chắc chắn là không tốt. Tuy nhiên, trời đất không ghét bỏ lang sói, sương và mưa không đối xử sai biệt với cây cao lương. Đạo thánh nhân cũng tương tự như vậy (nghĩa là không đối xử sai biệt giữa người này với người khác, giữa quân tử và tiểu nhân). Trường hợp không thể làm gì được đối với người hoặc vật xấu thì tách đối tượng rời ra hoặc tránh xa đối tượng chứ không đánh đập hoặc giết hại, bởi vì thánh nhân rất chán ghét việc gây hại đức nhân chứ không phải chán ghét đối tượng. Do đó, đạo thánh nhân rất chán ghét việc bất nhân bởi vì việc bất nhân làm cho tấm lòng yêu thích đức nhân không đến được.(3)

Vua Thuấn đã chọn ông Cao Dao ra dùng nhưng đối với 4 ác nhân (4) thì giết chết. Đối với việc làm sau (trong thiên Thuấn Điển của kinh Thưchỉ ghi lại sự kiện của lịch sử chứ)không phải là khen tụng. Ở thời đại của thánh nhân, không có tài năng, con vật hoặc đồ vật nào bị xem là vô dụng để phế bỏ đi.

Có lời truyền “Người dân ở thời đại vua Nghiêu, vua Thuấn tất cả đều những nhân vật đáng được phong làm chư hầu”(5). Ý của lời này không phải là tố chất(bản tính bẩm sinh) của mọi người dân thời đại này đều có thể trở thành công tước hoặc hầu tước, và cũng không phải người nói đồng tình với dân chúng để phải chấp nhận các khuyết điểm của họ. Ý muốn nói của lời này là vào thời vua Nghiêu, vua Thuấn, mọi người dân có thể cống hiến vào việc quản trị quốc gia ứng với tài năng của họ. Có những ghi chép như “Cần xem xét các lời nói gần gũi thấp hèn” (6), “Chọn dùng các ý kiến của người thấp hèn ở vùng núi”(7)v.v…Tuy nhiên, không phải tất cả những người thốt ra những lời có thể dùng đến như nói ở trên đều là người tài đức. Độc cũng có trường hợp chữa được bệnh, có lúc linh苓 trở thành vua của dược liệu(8); đá của núi khác có thể dùng mài giũa ngọc quý(9); người bất nhân cũng có thể để người tốt tham khảo (10) để tránh không làm như vậy. Phương pháp thành tựu sự vĩ đại của thánh nhân có ở những cách dùng người và vật như trên.

Lý do nào đã làm đạo Khổng suy yếu?

Các Nho gia (sau Khổng tử) phân chia thiện ác, tốt xấu quá rõ ràng nên làm cho phạm vi giáo huấn của các tiên vương trở nên hạn hẹp, và lại không ngừng nghiêm chỉnh nghị luận chính tà một cách không nhượng bộ nên phạm vi đối tượng của Khổng tử bị cắt xén bớt đi.Tất cả đều là tội lỗi của các Nho gia (sau Khổng tử).

Phương châm học như thế nào?

Do các lý do trên, từ các học thuyết của 9 phái trong chư tử bách gia (11) cho đến học thuyết thiên lệch của Phật giáo và Lão Trang đều là những phần rời rạc của đạo, không có học thuyết nào mà không xuất phát từ nhân tình (tình cảm muốn giải quyết các khó khăn của con người để có thế sống hạnh phúc hơn). Do đó, chính vì xuất phát từ nhân tình (tình người), nên trong các học thuyết chắc chắn có chí ngôn (điều khuyên chính đáng đáng học tập). Đạo thánh nhân là đạo lấy nhân tình làm trên hết. Nếu không như thế thì làm sao có thể quản trị dân chúng sống an bình. Do đó, nếu xây dựng được và duy trì được cơ sở căn bản quan trọng để an dân thì cái gì cũng là đạo của thánh nhân.

Các môn học chuyên môn của đời Hán đã làm cho học thuyết của mỗi người mỗi khác nhưng tất cả nội dung đều là do các thầy truyền dạy cho các đệ tử. Nguồn gốc của các nội dung này đều do các đệ tử của Khổng tử truyền lại. Dù được truyền lại từ các đệ tử của phu tử nhưng không có nghĩa là không có điều sai lạc (do người học hiểu sai hoặc nhớ sai). Ngoài ra, có điều còn điều mất (do quên hoặc thất truyền). Nếu như gom lại để học chung lại thì không đánh mất đạo.

Khi Khổng Dĩnh Đạt soạn ra sách chú giải của ngũ kinh(12) ông chỉ lấy chú giải của 1 người làm tiêu chuẩn chọn lựa. Đến đời Minh sau đó, khi Ngũ Kinh Đại Toàn(13)thì chú giải của Khổng Dĩnh Đạt lại bị cắt bỏ đi. Bởi 2 lý do chính yếu này, học thuyết của thánh nhân trở nên càng hạn hẹp không thể bằng cổ đại.

Do đó, căn bản của việc học (đạo thánh nhân) là một khi đã xác lập được các điểm căn bản lớn thì nên quý trọng việc học rộng không màng sự phức tạp. Nếu còn điều nghi ngờ không biết đúng hay không thì nên cứ để vậy chờ đến cái mầm thấu đạt phát sinh ra.

Tóm tắt ý quan trọng

– Người quân tử không khinh suất bỏ rơi người khác và mọi sự vật, không không quyết định thái độ từ đầu đối với cả phải lẫn trái, cả thiện lẫn bất thiện, nghĩa là không có thành kiến mà căn cứ vào tình trạng thực tế để phán đoán.

– Đạo Khổng (thánh nhân)lấy việc nuôi dưỡng tiềm năng để phát triển và sử dụng con người theo tài đức, đồ vật theo chức năng hoặc đặc tính, không bỏ rơi hoặc giết hại,

– Nếu xây dựng được hoặc duy trì được cơ sở căn bản quan trọng để an dân thì cái gì cũng là đạo của thánh nhân.

– Căn bản của việc học đạo thánh nhân là một khi đã xác lập được các điểm căn bản lớn thì nên quý trọng việc học rộng; có điều chưa hiểu thì cứ chờ đến lúc tự hiểu ra.

Nhận xét

(1) Sorai cho rằng đạo thánh nhân không xem người và vật gì vô ích. Người dịch rất thú vị khi nhớ lại trong Bài 20 Không Có Vật Gì Vô Dụng  trong tác phẩm Nhân Sinh Tâm Đắc Thiệp của Matsushita Kônosuke, nhân vật được người Nhật Bản xem là thánh của kinh doanh, cũng có quan niệm tương tự!

http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Bai-20-Khong-co-vat-gi.htm

(2) Trong chương Tính Ác sách Tuân Tử giải thích quan niệm thiện của người xưa là “xã hội sống hòa bình” và ác là “xã hội loạn lạc, chiến tranh”. Quan niệm thiện ác này cũng rất suy ngẫm. Tuy nhiên nếu tồng hợp với quan niệm thiện ác trong bài này thì có thể nói như sau: thiện là mọi vật có trật tự, có vị trí thích đáng với bản thân của người và vật; ác là mọi vật không có trật tự, không có vị trí thích đáng.

(3) Người biên dịch thiết nghĩ nên ghi lại đây ý nghĩa của từ quân tử君子theo nội dung giải thích của Sorai như vậy quý độc giả mới nắm được sự quan trọng của nội dung “Người quân tử không khinh suấtbỏ mặc làm ngơ con người, và đối với ngay cả con vật….” trong bài này.

Như quý độc giả đã biết đạo Khổng là đạo của các tiên vương cổ đại lập ra để an dân được ghi chép lại trong các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc, Dịch và dùng để dạy dân và đào tạo nhân tài. Sau đời Chu,các kinh sách bị thất lạc dần dần đi nên Khổng tử thu thập và ghi chép lại để dạy cho các đệ tử và truyền lại cho đời sau, chứ không phải do bản thân ông sáng tác lập ra. Quân tử là người học đạo tiên vương, tức đạo Khổng để quản trị dân chúng sống an vui, bao gồm từ vua, chư hầu, đại phu và sĩ. Quan niệm của các tiên vương là người quản trị dân phải làm gương mẫu cho dân chúng bắt chước theo nên điều kiện có đầy đủ đạo đức là điều tất yếu. Từ tiểu nhân là để chỉ người dân bình thường, để phân biệt với những người quản trị dân. Đó là ý nghĩa ban đầu của 2 từ quân tử tiểu nhân.

Tuy nhiên, từ khi Tống Nho xem trọng việc tu thân và xem nhẹ việc an dân nên sau đó người đời cứ cho ra quân tử là người có đạo đức, nhân cách cao thượng; có tiểu nhân là loại người không có đạo đức! Đó là trong những tai hại của Tổng Nho gây ra, ít người phát hiện!

Sorai giải thích chi tiết về từ quân tửtiểu nhân trong Luận Ngữ Trưng của ông, người biên dịch sẽ giới thiệu trong biên dịch tác phẩm này, quý độc giả nhớ đón xem.

Ghi chú

  • Hệ Từ Truyện hạ viết: “物相雑、故曰文”vật tương tạp, cố viết văn.
  • Chương 10 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ viết:

子曰:君子之於天下也,無適也,無莫也,義之與比。

Tử viết: “Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dữ tỷ.”

Dịch (của Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Cách xử sự của người quân tử không nhất định phải như vầy mới được, không nhất định như kia là không được, cứ hợp nghĩa thì làm.”

(Trong Luận Ngữ Trưng, Sorai giải thích chương này rất dài. Xin quý độc giả đón xem sau bài dịch của người dịch.)

  •  Chương 10 thiên 8 Thái Bá sách Luận Ngữ viết:

子曰:好勇疾貧,亂也。人而不仁,疾之已甚,亂也。

Tử viết: “Hiếu dũng tật bần, loạn dã. Nhân nhi bất nhân, tật chi dĩ thậm, loạn dã.

Dịch (của Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Kẻ hiếu dũng mà lại ghét cảnh nghèo khổ thì sẽ làm loạn. Người bất nhân mà bị ghét bỏ thái quá thì sẽ nổi loạn.”

Trong Luận Ngữ Trưng Sorai giải thích chương này như sau:

Hiếu dũng tật bần sẽ làm bản thân trở nên loạn.Nhân nhi bất nhân, tật chi dĩ thậm, loạn dã nghĩa là người mà ghét cực kỳ ghét đức nhân của việc làm người thì xúi giục người khác làm loạn. Mặc dù bản thân không làm loạn nhưng cũng giống như chính bản thân làm loạn. Do đó ở đây nói loạn dã (giống như câu đầu) cho thấy việc nghĩ xa của thánh nhân, cách nhìn thiển cận của hậu Nho làm sao sánh được!”

Nội dung giải thích của Sorai khác với nội dung phiên dịch nói trên, đáng để suy ngẫm thêm.

(4) Bốn ác nhân là Cộng Công gây ra lũ lụt, Hoan Đâu驩兜là Đan Chu丹朱, con trai của vua Nghiêu, Tam Miêu三苗tức Luận Thích Nghị論戚誼, người Tam Miêu,và Cổn鯀.

  • Chương 21 thiên 12 Nhan Uyên sách Luận Ngữ viết:

子夏曰:富哉言乎!舜有天下,選於眾,舉皋陶,不仁者遠矣;湯有天下,選於眾,舉伊尹,不仁者遠矣。

Tử Hạ viết: “Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Cao Dao; bất nhân giả viễn hỹ.Thang hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Y Doãn; bất nhân giả viễn hỹ.”

(5) Trong Vương Bôn Truyện sách Hán Thư viết: 唐虞之時、可比屋而封Đường Ngu chi đại, khả bí ốc nhi phong.

(6) Thiên Trung Dung trong sách Lễ Ký viết “子曰:「舜其大知也與!舜好問以好察邇言。隱惡而揚善。執其兩端,用其中於民。其斯以爲舜乎!」(Tạm dịch: Khổng tử nói: Vua Thuấn thật là đại trí (có trí tuệ)! Ông thích hỏi và xem xét các lời nói gần gũi chung quanh. Dấu điều xấu và nêu cao điều tốt của người khác. Ông nắm rõ 2 mức cực đoan của sự việc và áp dụng nội dung có cân bằng vào dân chúng. Đó là lý do tạo ra sự vĩ đại của ông.)

(7) Có trong bài tựaBản板 trong phần Đại Nhã của kinh Thi viết先民有言,詢于芻蕘。Tiên dân hữu ngôn, tuân vu sô nhiêu (Tạm dịch: người xưa thường nói, nên hỏi ý kiến của người đi lượm cũi. Ý nói, người quản trị dân nên thường hỏi ý kiến của người dân bình thường. )

(8) Theo Nishida Taichirô linh苓còn gọi là 豕零thỉ linhhoặc豬苓trư linh. Trong Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu giải thích: “Trư linh 豬苓 cũng là một loài nấm, mọc ở cây phong, từng hòn đen đen như phân lợn, nên gọi là trư linh, dùng làm thuốc.” Trong chương 21 Từ Vô Quỷ (Tạp thiên) sách Trang Tử viết:藥也其實,堇也,桔梗也,雞𢋊也,豕零也,是時為帝者也,何可勝言! Dịch của Nguyễn Hiến Lê: “Trong các vị thuốc có vị cẩn, có vị cát cánh, có vị kê ưng, có vị trư linh(trong Wikisource viếtthỉ linh). Những vị ấy vốn tầm thường mà có lúc lại là quý”.(Nguyên văn là đế giả, có nghĩa đứng đầu các thứ thuốc khác. Dĩ nhiên là tùy theo trị bệnh gì.)

(9) Trong bài tựa Hạc Ô鶴鳴trong phần Tiểu Nhã của kinh Thi viết:他山之石,可以為錯。

(10) Trong chương 27 sách Lão Tử viết: 故、善人者不善人之師、不善人者善人之資。Cố,thiện nhân giả bất thiện nhân chi sư, bất thiện nhân giả thiên nhân chi tư. Tạm dịch: Do đó, người tốt là thầy của người xấu; người xấu là người để cho người tốt tham khảo (nghĩa là lấy đó mà răn mình).

(11) Chín phái trong chư tử bách gia. Văn Nghệ Chí của Hán Thư phân loại các sách đương thời trong lĩnh vực tư tưởng ra làm 10 học phái: Nho gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tùng Hoành gia, Tạp gia, Nông gia, Tiểu Thuyết gia, và ở mục Tổng kết viết: 凡諸子百八十九家,四千三百二十四篇。Phàm chư tử bách bát thập cửu gia, tứ thiên tam bách nhị thập tứ thiên.( Tóm lại gồm có 189 nhà, 4324 thiên). Số học phái có 189 nhà nên lấy số đại khái là 100, gọi bách gia. Theo lời tựa của Xuân Thu Cốc Lương Truyện Chú Sớ, 10 học phái trở thành 9 học phái là do loại bỏ Tiểu Thuyết gia ra.

(12) Tức Ngũ Kinh Chính Nghĩa 五経正義do Khổng Dĩnh Đạt孔穎達(574~648, Nho gia đời Đường) soạn để chú giải ngũ kinh:Thượng Thư, Mao Thi, Lễ Ký, Chu Dịch, Xuân Thu Tả Truyện gồm 180 quyển.

(13) Sorai chỉ viết “Minh tác Đại Toàn”. Nishida Taichirô chú thích là Ngũ Kinh Đại Toàn, và gồm có Tứ Thư Đại Toàn và Tính Lý Đại Toàn được soạn theo lệnh của Thái tông (Thành tổ) nhà Minh, để thống nhất Tống học. Theo Yamakawa Thế Giới Sử Tiểu Từ Điển,Ngũ Kinh Đại Toàn là sách chú giải ngũ kinh, gồm có 154 quyển do Hồ Quảng胡広 biên soạn theo lệnh của Vĩnh Lạc Đế đời Minh, hoàn thành năm 1415 để làm tiêu chuẩn cho khoa cử.

Người dịch tra Wikisource thấy: Tứ Thư Đại Toàn chú giải các sách Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Trung Dung, và Tính Lý Đại Toàn gồm 70 quyển.

Nguyễn Sơn Hùng. Soạn xong ngày 13/1/2026, Bổ sung nhận xét ngày 25/3/2026

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng