Thay lời khai bút đầu năm
Tôn Thất Thông
Sau nhiền năm gián đoạn hậu Covid, vợ chồng chúng tôi quyết định về thăm gia đình, bà con, bạn bè, nhân tiện quan sát một chút về sự phát triển xã hội Việt Nam như thế nào. Trên báo chí tôi thường gặp những tin tức về kinh tế, về GDP, về thu nhập đầu người, về những tòa cao ốc, những đô thị mới, những đường cao tốc. Nhưng tôi muốn xem đằng sau vỏ bọc ấy, con người sống và nghĩ như thế nào. Mảnh đất hình chữ S này là nơi tôi đã sống những tháng ngày ấu thơ êm đềm, rồi đến khoảng thời gian mà tuổi thanh niên của tôi đã trải qua nhiều sóng gió cuộc đời, và đó cũng là những ngày tháng dữ dội của tuổi trẻ. Cho dù đã chứng kiến nhiều biến đổi bể dâu, nhưng tôi vẫn lạc quan định hướng tương lai cho mình với những hoài bão đẹp đẽ đầy hào quang, cứ nghĩ rằng, bàn tay mình sẽ có cơ hội góp phần tham gia vào việc xây dựng một xã hội tốt đẹp, mang lại chút ít hạnh phúc cho mọi người, và trước hết là chút ít ấm no cho người thân trong gia đình.
Chuyến phi cơ khởi hành từ Frankfurt trong một buổi chiều cuối đông, thời tiết bắt đầu se lạnh, và trên không có vài đám mây hiếm hoi, lững lờ như chờ đợi ai. Từ trên cao nhìn xuống khu ngoại vi Frankfurt ẩn hiện dưới vài đám mây lãng đãng, không gian trông yên bình đến kỳ lạ, lòng tôi thầm mong sẽ được nhìn lại Saigon trong tâm thái bình an đó.
Doha, trạm dừng chân đầu tiên
Sau sáu giờ bay, chúng tôi tạm dừng chân ba ngày ở Doha, không phải vì thành phố đó là nơi đáng sống, đáng xem. Không phải thế! Qua truyền thông đại chúng hàng ngày, tôi biết Doha là nơi hội tụ của hàng triệu lao động nhập cư, nhất là lao động tay chân không có nghề nghiệp chuyên môn từ các xứ nghèo. Họ đến đây để chạy trốn nghèo đói ở quê nhà, và hy vọng sau vài năm, có thể thu vén một số tiền tiết kiệm nhờ đồng lương gấp đôi ở xứ sở của họ. Với 300 US$ mỗi tháng, đồng lương quả đúng là gấp đôi ở quê nhà, nhưng họ phải chấp nhận số phận đen bạc của những người nhập cư tay trắng, không được luật pháp bảo vệ, không đủ sức mạnh để đối đầu với những người chủ tàn nhẫn, bóc lột thợ đến tận xương tủy, và được bảo kê bởi các cơ quan chính quyền.
Chúng tôi dừng chân vài ngày ở Doha, đơn giản vì đó là trạm trung chuyển của hãng máy bay Qatar Airways trên đường từ Frankfurt về Saigon, cho nên chúng tôi mua thêm gói Stopover vài ngày để nghỉ ngơi, để làm quen với múi giờ mới, để cơ thể quen dần với chu kỳ sinh học mới, để giữ tâm thái yên bình khi trở về Saigon gặp lại người thân. Ngoài ra, tôi cũng có chút tò mò tự hỏi, một đất nước mà độ chênh lệch khủng khiếp về lương hàng tháng của người làm công – từ 300 US$ đến 20.000 US$ – làm sao có thể phát triển được mà không đối mặt với xung khắc xã hội?
Cũng không bõ công một chuyến đi ngắn ngủi, mà qua đó tôi được biết nhiều chuyện hơn mình nghĩ. Trước đây vài ngàn năm, Qatar là một vùng đất trù phú nhiều cây xanh, vùng đất hứa của những bộ lạc sa mạc. Nhưng qua thời gian, vì nước ngọt không vươn đến Qatar, vùng đất này trở nên khô cằn, không người sinh sống. Mãi đến cuối thế kỷ 18, một vài gia tộc lớn thuộc các bộ lạc quanh đó mới tập hợp lại, di chuyển về bán đảo mà hôm nay gọi là Qatar, sinh sống bằng nghề đánh cá và buôn bán với những thương nhân đường biển xuyên lục địa. Điều gọi là quốc gia Qatar có thể xem như bắt đầu từ năm 1822, sau khi gia tộc Al Thani nắm quyền cai trị độc tôn trên mảnh đất 10.000 cây số vuông. Cư dân lúc đó không quá 500 người cũng dần dần tăng lên 12.000 sau một thế kỷ, nhưng trên bước đường phát triển đó, họ phải đối mặt với sự tranh giành ảnh hưởng của các đế chế Ba Tư, Ả Rập, Ottoman và cuối cùng rơi vào tay người Anh sau Thế chiến thứ nhất, khi đế chế Ottoman hoàn toàn tan rã.
Bước ngoặc đầu tiên của lịch sử là năm 1939, khi mỏ dầu đầu tiên được khám phá trong vùng biển chủ quyền của Qatar thuộc Anh. Sư kiện này biến Qatar thành nơi giao lưu buôn bán với thế giới bên ngoài, tạo điều kiện để Qatar nâng cao mức sống người dân và họ dần dần cải tiến bộ máy hành chánh để phù hợp với môi trường kinh doanh mới. Tuy nhiên, dưới chế độ cai trị của Anh, phần lớn lượng dầu khai thác được đem về mẫu quốc để dùng cho quân đội Anh, khi Thế chiến thứ hai bắt đầu đi vào giai đoạn khốc liệt. Người dân Qatar chỉ hưởng được một phần rất nhỏ sự phồn vinh phát sinh từ dầu mỏ, mà đúng ra, tất cả đều thuộc quyền sở hữu của họ.
Điểm uốn quan trọng nhất là sự tuyên bố độc lập năm 1971. Qatar thoát ra khỏi vòng đô hộ của đế chế Anh sau 50 năm thuộc địa. Và may mắn thay, chỉ sau hai năm, Qatar tìm thấy mỏ khí đốt lớn nhất thế giới. Nhờ thế, và cho đến bây giờ, Qatar có thể chiếm 13% thị phần khí đốt toàn cầu. Trong 50 năm qua, với nguồn thu nhập từ khí đốt và dầu lửa, người ta chứng kiến một sự phát triển vô tiền khoáng hậu trên mảnh đất nhỏ bé đó. Dân cư từ 60.000 người vào năm 1960, giờ đây đã lên đến 3,6 triệu, trong đó người bản địa Qatar chỉ chiếm dưới 400 ngàn người, tức 10% tổng dân số. Mọi sự phát triển chủ yếu đều do bàn tay của lao động nhập cư tạo ra. Thu nhập bình quân đầu người mỗi năm hiên nay là 130.000 US$ không đóng thuế, hơn cả Mỹ, hơn Canada, hơn Thụy Sĩ, hơn hầu hết các nước châu Âu. Nếu chú ý đến rất nhiều lao động nhập cư với thu nhập đầu người dưới 5.000 US$ mỗi năm, thì người bản địa Qatar có thu nhập thực tế hàng năm cao hơn nhiều, so với con số thống kê ở trên. Quả đúng là một dân tộc may mắn bậc nhất của thế kỷ 20.
Trở lại câu hỏi hóc búa ở trên: Mặc dù chênh lệch giàu nghèo khó lòng tưởng tượng, làm sao mà xung đột xã hội không hề xảy ra? Chúng ta không nhìn vào những ông hoàng khí đốt và những doanh nhân thành đạt, những người có thu nhập lên đến mức khó lòng tưởng tượng, mà hãy quan tâm đến giới lao động ăn lương tháng. Nếu người thợ xây dựng cấp thấp lãnh 300 US$ mỗi tháng, thì cũng có những quan chức nhà nước người bản địa Qatar, hoặc chuyên gia nhập cư với kiến thức sắc sảo, lãnh lương cao ngất ngưỡng, 20.000 US$ không phải là ngoại lệ. Nhưng cho dù sự chênh lệch quá lớn đó, xã hội vẫn hoàn toàn yên bình, an ninh, không hề thấy đình công, biểu tình, cũng không hế thấy tụ năm tụ ba phản đối. Làm sao nhà nước Qatar làm được điều đó?
Chỉ sau hai ngày, câu hỏi đó được trả lời chóng vánh, rất giản dị: nhờ luật nhập cư khắc nghiệt không nước nào có thể so sánh. Người nhập cư, từ thợ hồ đến chuyên gia cấp cao, không có quyền gì khác hơn là quyền làm việc, lãnh lương, im lặng và cố gắng để không rơi vào tình trạng thất nghiệp. Đến ngày gia hạn cư trú, nếu bạn không chứng minh đang có hợp đồng lao động trong tay, thì sẽ bị trục xuất. Không tranh cãi. Không có ngoại lệ. Không có một luật sư nào có thể bênh vực cho bạn trong trường hợp này. Chính quyền Qatar có một chiếc đũa thần để duy trì yên ổn trong giới lao động nhập cư, là cai trị họ bằng nỗi sợ hãi về mối đe dọa có thể bị trục xuất bất cứ lúc nào. Không người nhập cư nào dám phản đối. Người bản địa Qatar thì lại càng không phản đối, mà vui vẻ đứng sau lưng bộ luật nhập cư khắc nghiệt đó. Tình trạng này còn kéo dài bao lâu nữa? Một câu hỏi khó trả lời!
Cho nên, nếu ai có ý định đến làm việc tại Qatar để có lương cao, không trả thuế và dành dụm vài năm rồi trở về, thì cũng tùy hoàn cảnh mà quyết định. Nhưng nếu tính ở lại lâu dài trong môi trường xã hội như thế, thì tôi nghĩ là nên kính nhi viễn chi.
Saigon, hoa và lệ
Chúng tôi rời Doha khi bóng đêm vừa buông xuống. Mùa đông ở Doha thật lạ, mới hơn sáu giờ chiều mà trời đã tối mịt. Ngồi trên khoang máy bay, tôi nhìn ra ngoài chỉ thấy một màu đen kịt. Trên bầu trời không có một vì sao, nhìn xuống dưới không thấy rừng, không thấy biển. Thỉnh thoảng ánh lên vài ngọn đèn hiu hắt của một khu dân cư ở xa xa. Lòng tôi chùng xuống khi nghĩ về những ngày sắp tới. Tôi thầm nhủ, nên ngủ vài giờ để tâm hồn thư thái mà hưởng thụ hạnh phúc được gặp lại người thân. Đếm một hai ba để ru giấc ngủ cũng không ăn thua gì, cố làm cho đầu óc trống rỗng để ru hồn vào hư vô, cũng không có tác dụng. Tôi cứ thế thả hồn lâng lâng, đến đâu hay đó, nhìn ra bên ngoài vẫn chỉ thấy một màu đen gần suốt cả đoạn đường bay.
Khi đến gần vịnh Thái Lan, vài ánh bình minh bắt đầu chiếu dọi qua cửa sổ, mang một luồng sinh khí mới sưởi ấm tâm hồn. Tôi khoan khoái hưởng thụ sự yên bình mới chớm từ sắc hồng của mặt trời buổi sáng. Bên trên những áng mây đã thấp thoáng nhiều giọt nắng lung linh. Rồi máy bay hạ độ thấp, núi và rừng dần dần hiển lộ, êm ả tắm nắng ban mai. Rồi Saigon của tôi cũng xuất hiện, vẫn dòng sông uốn lượn quanh khu Thị Nghè, Thanh Đa. Vẫn những khu nhà san sát thấp lè tè nhiều màu sắc, nhưng nhìn ra xa phía trung tâm Saigon, thỉnh thoảng cũng thấy những tòa nhà chọc trời vươn lên như những nhát cắt phủ định quá khứ. Saigon của tôi đây rồi. Mới sáu năm xa cách mà Saigon đã thay đổi quá chừng như đã xa nhau hàng thế kỷ.
Đón chúng tôi ở sân bay là một phái đoàn hùng hậu ba thế hệ. Có chị, có hai em gái, có các cháu gái cháu trai đứng đó với nụ cười rạng rỡ, những đứa cháu mà bấy lâu cứ thúc giục gọi chúng tôi trở về thăm nhà, hứa sẽ tài trợ phí tổn chuyến đi cho cả hai vợ chồng. Giờ đây thấy chúng đứng đó mặt mày hân hoan, đứa nào cũng đã bước vào tuổi trung niên, con cái đầy đàn, nhưng trước mặt chúng tôi, chúng vẫn giống như những đứa cháu nhỏ bé ngoan hiền của hàng chục năm về trước. Tôi ôm cả đại gia đình vào vòng tay, để cảm nhận sự ấm áp của tình thương yêu của người thân.
Tuần sau đó là một chương trình dài dằng dặc, tiểu yến có, đại yến có, các cháu gái cháu trai thì dẫn chúng tôi đi trải nghiệm những những sự kiện mới, thưởng thức văn nghệ của Chào Show, trải nghiệm tuyến Metro mới, phố đi bộ, thưởng thức món ăn độc đáo chưa hề biết, kéo vào tiệm thời trang bắt phải thử để mua tặng cho bằng được vài chiếc quần tây, đi chợ Bến Thành mua sắm, trả giá, ăn vặt. Tôi có cảm giác như người mù được các cháu dắt tay đi khám phá những vùng đất mới.
Chuyến thăm quê hương của tôi bắt đầu với những cảm xúc êm đềm như thế.
Đó là những ngày tôi tận hưởng vẻ đẹp hoa lệ của Saigon. Quanh quẩn ở quận một, du khách có cảm giác như luồn lách qua những góc nhỏ của thiên đường, dù không có hoa thơm cỏ lạ, nhưng đầy ắp sự sinh động của những con người tràn đầy sức sống. Chung quanh công trường Nguyễn Huệ, các khu phố rất khang trang, các tòa nhà không quá cao, nhưng đủ tráng lệ để tỏa sáng một góc phố. Lề đường được thường xuyên quét dọn để tạo một không gian sạch sẽ, quý phái. Saigon quận một xem ra thật quyến rũ không thua kém bất kỳ khu trung tâm nào của các nước tiên tiến, chắc chắn hơn xa Frankfurt nơi tôi đang sinh sống. Người du khách ngoại quốc, đa số chỉ quanh quẩn ở quận một, khó lòng tưởng tượng đến một thực tế là, thu nhập đầu người Việt Nam chưa vượt quá ngưỡng 5.000 US$ mỗi năm.
Nhưng chúng tôi không ở trong khách sạn quận một, mà được cô em gái đón về ở trong một căn nhà kha khá của giới trung lưu ở Gò Vấp. Không sang trọng như khách sạn, nhưng có không gian riêng, và ngày ngày từ sáng sớm, hai anh em có thể cùng nhau uống trà, ăn sáng, kể chuyện đời và ôn lại những kỷ niệm tuổi thơ ở xứ Huế. Căn nhà cách trung tâm tám cây số, tọa lạc trong một khu vực hiếm hoi, có cây xanh bóng mát, có một công viên nho nhỏ, để các cụ già tập thể dục mỗi sáng, hoặc các cô cậu thanh niên ngồi uống cà phê, có người thì trầm ngâm chơi cờ tướng.
Để quan sát cuộc sống đời thường, đây là nơi nghỉ chân quá lý tưởng. Vào buổi sáng, tôi ra ngoài đường lớn để ngắm nhìn đời sống thường nhật của những phận người vất vả mưu sinh. Khi cảm thấy mệt mỏi vì nhịp sống hối hả của đường phố, tôi trở về ốc đảo này, ngồi uống cà phê trong phòng khách ngắm nhìn đời sống nhẹ nhàng lướt qua công viên để nạp thêm năng lượng. Bước ra khỏi ốc đảo xanh tươi ấy, đi bộ chừng 300 mét, tôi có thể cảm nhận một nhịp đập khác của Saigon, nhịp đập của cuộc đời đua tranh không ngừng nghỉ. Sự đua tranh đó hiện rõ ở dòng xe cộ đông đúc giờ cao điểm, những cô gái chạy xe máy trùm kín mặt mày tay chân, len lỏi uốn lượn giữa dòng xe cộ kẹt cứng trên lòng đường, Người ta có thể gọi đó là nếp sống năng động của người Saigon, nhưng người khác cũng có thể gọi đó nhịp đập từ sự bươn chải mưu sinh của những phận người không bao giờ kiếm đủ cho nhu cầu cuộc sống.
So với vài thập niên trước, Gò Vấp bây giờ đã phát triển hơn nhiều. Đã có những khu chung cư sang trọng, kiến trúc châu Âu, trên những con đường nhỏ cắt ngang hông, trong lúc ở trục chính đã mọc lên những siêu thị đa năng, những cửa hàng lộng lẫy. Nhưng tiếp nối vài tòa nhà lộng lẫy đó là một dãy dài những cửa hàng tư nhân bán đủ thứ, từ áo quần giày dép, đến vật gia dụng, bán xe đạp, xe máy cũ. Thỉnh thoảng có một tiệm hàn xì cơ khí, với vài em công nhân mình trần trùng trục làm việc bên lò lửa và cái nóng cháy da. Nhìn xuống lề đường, thì dường như không còn không gian cho người đi bộ. Vĩa hè của khách bộ hành thường biến thành bãi giữ xe tự phát của ai đó, nhưng chắc hẳn đã được công an bảo kê. Tôi thường khó nhọc len lỏi giữa không gian hỗn loạn đó để kiếm đường đi, nhiều lúc phải bước xuống đường, đối mặt với dòng xe chạy đông đúc, và không khỏi rùng mình khi nghĩ đến tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Nhưng những điều hỗn loạn đó cũng không làm cho người ta ngậm ngùi chua xót. Đi một đoạn ngắn là người ta đã gặp vài bà cụ bán vé số. Không hiếm người đã đến tuổi 70, lứa tuổi mà đúng ra họ có thể an hưởng tuổi già bên con cháu. Hỏi thăm về công việc, tôi không khỏi ngậm ngùi cho những phận đời đen bạc. Mỗi tấm vé số họ hưởng được 1500 đồng tiền huê hồng. Mỗi ngày bán được bao nhiêu tấm? Vài chục tấm? Hay những người may mắn lắm cũng chỉ bán được 100 vé là cùng. Nếu mỗi ngày lang thang 10 giờ ngoài đường, mỗi tháng 30 ngày, người may mắn nhất cũng chỉ kiếm được 4 triệu đồng, vừa đủ cho một miệng ăn, nếu không phải trả tiền thuê nhà. Rồi chúng ta còn thấy những gánh hàng rong bán chè, cháo, tàu hủ, những thức ăn dân giả được ưa chuộng thời trước, nay thì khó lòng cạnh tranh với thực phẩm công nghiệp trong siêu thị, kiếm được vài ngàn vặt vãnh cũng không dễ chút nào. Đấy là chưa kể nhiều phận đời khác ngày ngày bươn chải mưu sinh, ngồi lếch tha lếch thếch để bán rau, bán hoa quả, mà suốt ngày cũng chưa chắc kiếm đủ tiền cho một miệng ăn, nói gì tới chuyện nuôi gia đình hoặc cho con cái ăn học.
Những cảnh đời đen bạc ấy đã có từ lâu, từ thập niên 1960, khi tôi còn là một sinh viên đầy nhiệt huyết. Nhưng thuở ấy người ta rất quan tâm đến số phận hẩm hiu của những phận đời sa cơ thất thế. Chính phủ miền Nam lúc ấy vẫn có, dù không nhiều, một ngân sách nào đó trong chương trình hỗ trợ thanh niên sinh viên tình nguyện làm công tác xã hội. Bây giờ, sau 60 năm, những phận người đó xem ra không hề giảm mà dường như tăng lên. Điều bi đát là không ai chăm lo để gánh bớt phần nào nhọc nhằn cho họ. Chính quyền thì dường như không để mắt tới, trên đường phố không hề thấy bóng dáng của thanh niên chí nguyện. Chúng tôi, những ông già gần 80 thì sức lực đã cạn, còn thanh niên hôm nay thì sao? Dường như họ chỉ bận tâm chuyện kiếm tiền, người có chút điều kiện thì nhấp nhỏm nộp đơn xin ra ngoại quốc. Người có trình độ học vấn thấp hơn thì đôn đáo kiếm tiền để mua một vé xuất khẩu lao động. Những bận tâm thường nhật ấy đã che khuất ý thức về bất bình đẳng xã hội. Thuật ngữ đó dường như đã trở thành thứ ngôn từ xa xỉ, chỉ có trong từ điển, không hề có một mối liên hệ nào với đời sống thực.
Điều gì đang xảy ra trên vùng đất hứa của tôi 60 năm về trước, vùng đất mà tôi từng xem như cội nguồn của mọi ước mơ tuổi trẻ?
Tôi thầm nhủ, ở cái tuổi gần đất xa trời mà còn bức xúc với những thứ đãi bôi trong xã hội, thì làm sao thanh thản để chuẩn bị chuyện cuối đời. Cho nên, tôi cố thu mình tận hưởng cảm xúc dịu dàng với người thân trong gia đình, và dành thời gian còn lại để gặp bạn cũ, những người mà trong cái nhiễu nhương của xã hội vẫn còn nghĩa khí và ý thức tương giao để trao đổi với nhau dăm ba chuyện đời, chuyện người, chuyện nhân tình thế thái, nhưng trước hết là để trong quỹ thời gian còn lại không nhiều, vẫn có thể dành cho nhau nụ cười, tình thân ấm áp và mối cảm thông với những ưu tư không dứt.
Trước khi rời Saigon để đi ra miền Trung, chúng tôi hẹn gặp vợ chồng anh Trần Hữu Quang và chị Thu Nhường, hai người bạn cùng trang lứa quen nhau từ gần 10 năm trước trong một kỳ hội thảo hè tại Praha. Anh là giáo sư xã hội học của đại học Saigon, chị là cựu giảng viên đàn dương cầm, cho nên cả hai người có một lối sống và tư duy rất cởi mở và hiện đại. Chúng tôi cùng nhau ăn sáng gần quán phở Pasteur, nơi ghi dấu biết bao kỷ niệm của nửa thế kỷ trước. Gặp nhau trong tâm thái ý hiệp tâm đầu với nhau về chuyện đời, chuyện thế sự, chuyện gia đình, chuyện xã hội. Bốn tuần sau, chúng tôi còn tham gia một séminaire của anh Quang để sống lại không khí sinh viên của 60 năm trước, và nói chuyện với sinh viên để hiểu thêm đời sống của họ. Hóa ra, đa số các em sinh viên nào cũng mang trong người một hoài bão trong sáng được tham gia cải tạo xã hội. Nhưng em nào cũng thở dài, hoài bão đó không thể trở thành hiện thực trong một môi trường, mà các định chế có sẵn là chuẩn mực không ai được phép vượt qua. Và khi rời đại học để lao vào đời sống nghề nghiệp, các em bị cuốn hút vào vòng xoáy cuộc đời, hoài bão đẹp đẽ cũng dần dần mai một theo thời gian. Nghĩ lại tuổi trẻ dữ dội của mình nửa thế kỷ trước, rồi nhìn tuổi trẻ hiện nay, lòng tôi không khỏi có chút bâng khuâng. Một quốc gia mà thanh niên sinh viên không dám lên tiếng phản biện chuyện gì, không dám công khai phản đối những bất cập sâu sắc của xã hội, thì tương lai của quốc gia đó sẽ thế nào?
Vui mừng nhất là gặp lại người bạn cũ Bùi Văn Nam Sơn, người bạn từ những ngày đầu tham gia phong trào phản chiến ở Tây Đức. Dù tuổi đã gần 80, thị lực không còn nhiều, đi đứng không vững, nhưng giọng nói của anh trong lúc diễn thuyết vẫn sang sảng như ngày nào. Đó là buổi tọa đàm triết học tại đại học Luật. Với lối phát biểu hùng biện, phong cách sảng khoái tự do, có phần dí dỏm, anh vẫn còn sức cuốn hút khi truyền đạt những vấn đề phức tạp khúc chiết, bằng lối nói giản dị, ngôn từ trong sáng để chuyển tải nội dung đến người nghe. Bùi Văn Nam Sơn bây giờ và hơn nửa thế kỷ trước xem ra không khác nhau nhiều. Chỉ có tóc đã bạc trắng, thị lực đã cạn kiệt. Còn ngoài ra, giọng nói vẫn hùng hồn như thế, phong thái vẫn khoáng đãng như thế. Tôi ngồi nghe anh diễn thuyết mà tưởng như nghe bạn già nói chuyện gần 60 năm về trước, và lấy làm mừng khi thấy anh, sau một thời gian thất vọng ê chề vì nhân tình thế sự, đã tìm được thú vui trong việc nghiên cứu triết học và xây dựng một nhóm triết học trẻ để tiếp nối. Và giống như gần 60 năm trước trong phong trào ở Tây Đức, anh Sơn đang có một chỗ đứng vững vàng trên lâu đài triết học hiện đại của Việt Nam, được nhiều đại học từ Nam ra Bắc săn đón mời diễn thuyết. Tên tuổi của anh đã đi vào lịch sử triết học Việt Nam một cách đĩnh đạc, và chắc chắn sự nghiệp triết học của anh sẽ còn lưu truyền trong nhiều thế hệ về sau.
Chưa hết, trong khuôn khổ việc ăn mừng sự ra đời tập sách “Thuật ngữ Tâm lý học – Anh Việt Pháp Đức”, mà Hoàng Lan Anh phụ trách hiệu đính tiếng Pháp và Đức, anh chủ biên Hoàng Hưng đã mời chúng tôi và vài người bạn tâm giao đến ăn sáng tại Trung Nguyên Legende, nơi có món phở khô Gia Lai danh tiếng của Saigon. Tôi gặp lại anh Mạc Văn Trang sau 8 năm từ ngày anh còn ở Ba Lan, gặp chị Kim Chi, diễn viên thần tượng của chúng tôi trong thập niên 60, gặp anh Lưu Trọng Văn mà văn phong thanh thoát đã để lại dấu ấn không phai mờ trên văn đàn, gặp nhà hán học Trần Văn Chánh, người tham gia tích cực vào cuốn từ điển để rà soát các từ ngữ Hán-Việt. Đó là những con người có khối óc mênh mông và đôi chân vững vàng như đá. Cho dù gặp nhiều oan khiên trong đời sống, có người bị cấm xuất cảnh, người khác thì không ai dám nhận xuất bản sách, nhưng phong thái mọi người vẫn vô cùng đĩnh đạc, tự tin. Họ vẫn nói chuyện tự nhiên, không e dè về những điều khuất tất trong xã hội, và từ phong thái của họ, tôi học được một cách nhìn quá sâu sắc về nhân tình thế sự. Niềm hy vọng không bao giờ tắt.
Tiếc là, vì một sự nhầm lẫn không đáng có, tôi không gặp được nhà thơ Ý Nhi để hàn huyên chuyện văn học, thôi đành phải “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình“. Hẹn chị lần tới nhé.
Và như thế, tôi trở về Saigon với cảm xúc êm đềm trong vòng tay của chị em và các cháu, rồi tạm rời Saigon để ra miền Trung trong tâm trạng bâng khuâng nhưng có điểm chút yên bình. Cho dù đời sống xã hội còn nhiều bất cập, nhưng ở đây vẫn còn những con người, dù tuổi đời đã cao, nhưng trái tim vẫn nồng cháy, kiên nhẫn tỏa ra những tia sáng thông tuệ và tình người. Hy vọng họ có thể truyền đạt lại cho các thế hệ sau để tiếp tục ngọn lửa nồng cháy đó.
Tôn Thất Thông
Bad Nauheim, tháng giêng năm 2025
(Còn tiếp: Hội An, Huế, Hà Nội, Ninh Bình, Phú Quốc)
Trở về trang chủ
Xem thêm các bài viết và dịch của Tôn Thất Thông







