Trang chủ » KÝ SỰ – VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG (2)

KÝ SỰ – VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG (2)

Tháng Một 2026
H B T N S B C
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Tìm chuyên mục

Thư viện

Hội An phố chợ đông người…
Tôn Thất Thông

Tôi leo lên máy bay, trực chỉ Đà Nẵng, bắt đầu chuyến đi tìm về tuổi thơ ở miền Trung. Ngồi trên máy bay, tôi nhâm nhi mấy câu hát của Phạm Duy:

Về miền Trung! Miền thùy dương bóng dừa ngàn thông
Thuyền ngược suôi suốt một dòng sông… dài
Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ

Dù đi xa tận Saigon để vào đại học, hoặc xa hơn sang tận trời Âu để tiếp tục sự nghiệp, thì miền Trung vẫn mãi khắc ghi trong ký ức của tôi. Ôi quê hương xứ dân gầy, Phạm Duy đã dùng một hình tượng đến nao lòng để nói lên phận đời mưu sinh của người miền Trung, trong vùng đất mà người ta quen dùng hình ảnh ẩn dụ là chó ăn đá, gà ăn muối. Nhưng có lẽ nhờ đã từng sống trong môi trường khắc khổ đó, mà người miền Trung ít khi đầu hàng trước những tình huống nghiệt ngã trong cuộc đời.

Về miền Trung, với tôi trong chuyến đi này trước hết là về Huế, về thăm gia đình cô em gái, dù vật đổi sao dời, vẫn cương quyến bám trụ suốt mấy chục năm qua. Về thăm lại trường xưa, thăm những người bạn còn sót lại không nhiều, thăm con sông Hương đẹp đến ngẩn ngơ, thăm con đường Mã Khái gắn liền với 18 năm tuổi thơ, thăm ngôi lầu Hoàng Đệ đã cưu mang gia đình tôi trên tầng hai suốt ba ngày lụt năm 1953. Nhiều thứ để thăm lắm.

Và trên đường đi, chúng tôi trước hết ghé thăm Hội An. Đã vài chục năm nay tôi chưa từng đến đó, nhưng nghe người ta nói rằng, thành phố du lịch này được ưa chuộng vì nó không phát triển như bao thành phố du lịch khác, không tha hóa vì tác động của dòng người tứ xứ, mà nó vẫn còn giữ nét văn hóa độc đáo của riêng mình.

Đối với tôi, Hội An còn có một ký ức khác liên quan đến Vĩnh Điện, thành phố cách Hội An vài cây số. Thưở ấy, tôi là một học sinh mới vào trung học đệ nhất cấp (tức là cấp hai), có một lần vào dịp nghỉ hè, đi chơi theo ba tôi trong chuyến công tác ở Vĩnh Điện. Nửa đêm đang ngon giấc thì thành phố bị pháo kích suốt gần nửa tiếng đồng hồ. Ba tôi đẩy tôi xuống hầm trú ẩn ngay dưới gầm giường, ôm tôi để lấy thân che chắn, phòng hờ trường hợp đá bay đạn lạc. Đến lúc mọi thứ yên ắng, hai cha con lồm cồm bò dậy, lưng áo ba tôi dính đầy bụi đất, và một vạt áo bị rách vì đá bay xước ngang. Còn tôi, vì được che chắn cho nên an toàn. Ở lứa tuổi 12, tôi bắt đầu lờ mờ có ý thức thế nào là che chắn và được che chắn, và ý thức đó vẫn dõi theo tôi, ngày càng rõ nét, rồi nhờ thế mà khi trưởng thành, nó định hình phong cách tôi cư xử với người thân trong gia đình. Cám ơn Ba tôi, người đã dạy cho tôi một bài học lớn trong cuộc đời mà không cần nói một lời.

Khi đã leo ra khỏi hầm trú ẩn, tôi ngơ ngác không biết chuyện gì, ngây thơ hỏi: “Ai bắn súng vậy ba?”. Ba tôi đánh trống lãng, chỉ nhỏ nhẹ an ủi rằng, chuyện vẫn thường xảy ra ấy mà. Mãi vài năm sau lớn khôn hơn một chút, khi thành phố Huế bắt đầu đối mặt với những xáo trộn chính trị, tôi lờ mờ hiểu thêm một số chuyện. Ba tôi là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, trong lúc chú bác bà con, người thì tập kết, người khác thì đã “chết” như được ghi trong giấy khai sinh của con cái họ, thực chất là họ đang ở trong “bưng”. Có lẽ hồi đó, Ba tôi không muốn gieo vào đầu trẻ thơ những khái niệm không đẹp về chiến tranh, về chia ly, về bi kịch gia đình, về oan khuất của những phận đời nghiệt ngã.

Mãi sau này, khi sang tận trời Âu, tôi mới học được từ bạn bè Đức khái niệm “chủ nghĩa hòa bình(pacifism), học được từ họ nhiều điều để thấm thía thế nào là sự phi lý của chiến tranh, và ngày càng cảm thấy ngậm ngùi như Trịnh Công Sơn:“Hai mươi năm nội chiến từng ngày”. Dần dần, tôi học thêm từ bạn bè cách hành xử năng động hơn, không còn thụ động ngậm ngùi, mà công khai biểu lộ thái độ phản chiến bằng viết báo, phản biện, rải truyền đơn ở Cantine sinh viên, diễn thuyết, biểu tình bất bạo động. Bạn bè Đức thường nói để trấn an tôi rằng, sẽ không có chuyện gì xảy ra, khi bạn không bạo động và hành xử trong khuôn khổ luật pháp. Cám ơn các bạn bè sinh viên Đức, Việt Nam và ngoại quốc cùng lứa, đã mở cho tôi nhiều cánh cửa để nhìn đời. Những hoạt động trong thời gian đó hết sức ấn tượng, đã trở thành những ký ức không hề phai nhạt qua thời gian, đã trở thành thói quen hành xử trước những phi lý của cuộc đời. Chúng đã định hình con người tôi cho đến tận bây giờ.

Từ nhiều bài học lịch sử, tôi nghiệm ra rằng, nước nào rơi vào chiến tranh, dù do bên nào gây ra, đều bị lịch sử ném lại đằng sau nhiều thập kỷ. Nước nào may mắn thì sau khi chiến tranh chấm dứt vài chục năm, có thể đoàn kết toàn dân để vươn mình trở lại, nước nào kém may mắn hơn thì chìm đắm lâu dài trong hận thù, lạc hậu. Việt Nam thuộc trường hợp nào đây? Tôi thầm nghĩ mà không tìm được câu trả lời, vì lạc hậu và tiên tiến là những khái niệm quá mơ hồ khi cảm nhận nó bằng trái tim thuần khiết, không phải bằng những con số vô tri.

Máy bay đến Đà Nẵng vào lúc ba giờ chiều. Xa xa chúng tôi nhìn thấy khu vực đẹp tuyệt trần của Ngũ Hành Sơn, nơi gần như mỗi năm trong thời thơ ấu tôi được đến chơi một lần để mua hàng lưu niệm, rồi bán đảo Sơn Trà xanh mát hiện ra, trước khi máy bay đáp xuống phi đạo. Xe của khách sạn đón tôi ở phi trường và đưa thẳng về Hội An, đi ngang qua Ngũ Hành Sơn, Điện Bàn rồi đi vào thành phố khi trời chưa tối.

Chúng tôi còn kịp tắm rửa, thay áo quần để đi dạo quanh phố cổ, đi ăn tối và mua sắm ở chợ đêm Hội An. Trong suốt hai giờ dạo quanh phố cổ, tôi thụ hưởng một cảm giác yên bình đến lạ kỳ, ngắm nhìn những chiếc đèn lồng treo trước mỗi căn nhà, đi bộ dọc sông Thu Bồn, thưởng thức nét đẹp lung linh của dòng sông phủ đầy những ánh đèn cầy mờ mờ ảo ảo bên cạnh các chiếc thuyền nan chở du khách, lững lờ trôi. Tôi chợt thấy rằng, đã lâu lắm rồi, mình thèm khát một cảm giác yên bình như thế này, quên đi cái vội vã lạnh lùng của Frankfurt, quên đi nếp sống vội vàng bươn chải của nhiều phận đời ở Saigon trong những ngày qua.

Đi quanh phố cổ, người ta dễ dàng tìm thấy dấu vết để lại của cư dân ngoại quốc đã đến Hội An định cư suốt hơn 500 năm qua, và chính họ đã làm cho văn hóa Hội An phong phú, từ đó định hình bản sắc Hội An mà không thành phố nào có được. Kìa, đó là khu lưu niệm của cư dân người Hoa thuộc tỉnh Phúc Kiến, kia là nhà thờ họ của cư dân Triều Châu, tất cả đều mang đặc trưng của kiến trúc Trung Hoa. Đi xa hơn một chút là kiến trúc Nhật Bản, mà tiêu biểu là Chùa Cầu nằm trong trái tim của Hội An. Và rải rác khắp nơi là những căn nhà mang dấu ấn của kiến trúc châu Âu thế kỷ 18 sơn màu vàng đậm, đặc trưng không thề nhầm lẫn với nơi nào khác.

Điều làm cho tôi cảm thấy yên bình, không chỉ là không khí và cuộc sống, mà là con người Hội An. Từ Saigon ra đây, chỉ sau một ngày, tôi có cảm giác như đi từ nước này qua nước khác. Người Hội An sống chậm hơn những nơi khác, không phải vì họ lơ là với công việc mưu sinh, mà dường như đối với họ, dù bận rộn đến đâu, thì sự tương giao giữa con người với nhau vẫn là một niềm vui của chính bản thân họ. Người ta gọi bằng từ đơn giản là hiếu khách, nhưng trong chiều sâu của tâm hồn, nó còn mang ý nghĩa nhân văn cao hơn thế rất nhiều.

Chúng tôi đến thăm một quầy hàng lưu niệm trong chợ đêm, đứng nói chuyện với cô chủ hàng khá lâu, nhưng chưa có ý định mua gì. Thỉnh thoảng thấy vài người khách ngoại quốc đến sờ mó xem hàng, tôi nhắc cô ấy qua tiếp khách, thì cô trả lời ráo hoảnh: “Không sao, họ cứ xem tự nhiên và lúc nào muốn mua thì họ sẽ hỏi em, không cần chào mời đâu ạ”. Thật lạ, một phong cách tiếp khách hàng quá ư thoải mái, khác hẳn việc buôn bán ở chợ Bến Thành. Lân la chuyện trò thì biết cô ấy là người đồng hương, đã từng là giáo viên dạy văn ở Huế, rồi theo chồng vào làm ăn ở Hội An từ hơn 20 năm nay.

Sau một lúc, xem ra hai bên bắt đầu thân mật, tôi hỏi đùa: “Em là người Huế, dạy văn mà chẳng lẽ không biết hai câu thơ dân gian: Học trò trong Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi không rời. Còn em thì làm chuyện ngược đời, cô giáo Huế rời bỏ quê hương để theo chồng vào Quảng là sao?”. Cô chủ hàng phá ra cười sảng khoái: “Lúc đầu em cũng nghĩ như rứa, nhưng sau 20 năm lấy chồng người Quảng, sống ở xứ Quảng, em thấy không hề hối hận vì quyết định của mình. Hội An là nơi đáng sống lắm ạ”. Rồi trầm ngâm nói tiếp: “Người Huế còn một câu độc địa hơn, Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, Bình Định hay lo, Thừa Thiên ăn hết. Đố anh chị, Thừa Thiên ăn hết có nghĩa là gì?”, rồi tủm tỉm cười bí hiểm. Tôi gặn hỏi mãi thì chỉ nhận được câu trả lời không đầu không đũa: “Nó có năm bảy nghĩa khác nhau anh ạ. Lúc dạy học ở Huế, em cắt nghĩa hết cho học sinh nhưng không phê phán, chỉ yêu cầu các em học sinh tự kiếm câu trả lời nào mang ý nghĩa sâu sắc nhất cho chính mình”. Tôi ngớ người, rốt cuộc cũng không biết cô ấy nghĩ gì, và Thừa Thiên ăn hết có ý nghĩa sâu xa như thế nào?

Hỏi thăm thu nhập hàng ngày thì cô ấy cho biết, nếu ông trời đừng gây mưa quét bão, thì hai vợ chồng bán hàng ở chợ đêm cũng có thể mang lại cho họ thu nhập đủ để nuôi hai đứa con ăn học. Nếu ban ngày kiếm được việc gì làm thêm, thì có thể tích cóp thêm chút ít tiết kiệm để sau này đưa con lên Đà Nẵng học đại học. Nghe như thế, tôi cảm thấy tâm hồn bình yên đến lạ. Cách đây 30 năm, Hội An còn là một cảng biển hẻo lánh, giờ đây nó đã trở thành một vùng trù phú thu hút cư dân các vùng quê chung quanh đến lập nghiệp. Hàng chục ngàn gia đình ở Hội An đều sống nhờ du lịch. Gần 5 triệu lượt du khách mỗi năm đã mang đến cho Hội An hàng ngàn công việc đủ loại, nuôi sống hàng chục hộ dân cư. Biết như thế, chúng tôi chợt nghĩ, mình có nên tiết kiệm chi tiêu khi đi du lịch những nơi đáng yêu như Hội An. Dường như những ngày sau đó, chúng tôi tiêu pha mạnh tay hơn, trải nghiệm nhiều dịch vụ hơn, tham gia nhiều sự kiện hơn, mua khăn quàng, áo quần nhiều hơn, mặc dù biết rằng khi trở về Đức, những món hàng đó chưa chắc sẽ được dùng một lần nào trong năm. Có phải đó là tâm lý của xã hội tiêu thụ thừa mứa? Đúng vậy, nhưng có sao đâu, nếu sự tiêu pha đó có thể mang lại nụ cười cho vài gia đình đang sống nhờ dịch vụ du lịch?

Người Hội An bình quân không giàu, hay nói chính xác hơn, sự chênh lệch giàu nghèo không quá đáng. Ai làm chủ một khách sạn chừng 20 phòng, thì đồng ra đồng vào cao hơn hẳn so với người khác. Nhưng người ta không thấy sự chênh lệch quá lộ liễu như ở Saigon hay Hà Nội. Ở Hôi An suốt ba ngày, chúng tôi không hề thấy một người ăn xin, hay một em bé đánh giày. Vé số được bán ở các cửa hàng dịch vụ chứ không phải bán lang thang bởi các cụ già quá tuổi. Gánh hàng rong thì thành phố nào cũng có. Nhưng ở Hội An, hàng rong có vẻ khấm khá hơn, phong phú hơn, cây trái tươi ngon hơn, chất lượng cao hơn, có thể cạnh tranh với siêu thị. Tôi làm một việc lẩm cẩm để tính sơ qua, nếu mỗi ngày họ bán hàng rong như thế được hai lượt hàng, thì việc nuôi sống gia đình không phải là chuyện quá cam go, như nhiều phận đời đen bạc ở Saigon hay Hà Nội.

Cho nên tôi hiểu, tại sao có người vào Saigon lập nghiệp, nhưng khi ngành du lịch ở Hội An bắt đầu phát triển sau khi UNESCO công nhận Hội An là di sản văn hóa, họ liền nhanh chân trở về, nắm lấy thời cơ để xây dựng tương lai trên chính mảnh đất quê hương của họ, như cặp vợ chồng trung niên làm chủ khách sạn nơi tôi cư ngụ trong thời gian ở Hội An. Đôi vợ chồng này là những người dễ bắt chuyện, cởi mở, và qua họ, tôi hiểu nhiều hơn về con người Hội An, về đời sống kinh tế, cũng như căn tính của những người con xứ Quảng.

Dù là thành phố du lịch đã chạm mức quá tải, nhưng chúng tôi không thấy sự ồn ào, xô bồ như ở vài thành phố du lịch ở Thái Lan. Không đĩ điếm, không quán bar với điệu múa cột khiêu dâm, không thấy các cô gái ăn mặc hở hang trên các khu phố du lịch. Thỉnh thoảng chỉ thấy vài quán bar hát nhạc rock để phục vụ du khách trẻ, phong thái rất lành mạnh. Khu vực ẩm thực và phố cổ luôn luôn là một lễ hội đầy màu sắc, vui nhộn, sống động. Có lẽ đây là một nỗ lực lớn của chính quyền địa phương để duy trì một không gian đầy văn hóa như thế, mặc dù ai cũng biết, du lịch hàng loạt số đông thường đi đôi với những trò tiêu khiển kém văn hóa.

Đêm cuối cùng, chúng tôi nhờ cô Liễu, chủ khách sạn mua giùm hai vé đi xem show diễn “Ký ức Hội An”. Đó là show nghệ thuật ngoài trời, được tổ chức trong một công viên văn hóa, nghĩ dưỡng, giải trí, chiếm trọn một hòn đảo nằm lọt giữa hai nhánh sông Hoài. Chương trình được diễn trên một sân khấu lộ thiên rộng hơn một sân đá bóng, thêm nhà cửa, thuyền bè để làm phông ở phía sau, có nhánh sông Hoài vắt ngang, có cầu đi bộ, kết hợp với kỹ thuật ánh sáng, đèn LED để mô phỏng chuyển động và tạo nên ảo giác êm đềm cho người xem. Không gian sông nước, kiến trúc và con người này là một kết cấu có một không hai, có lẽ đó là sân khấu lớn và độc đáo nhất Việt Nam hiện nay.

Về nội dung, show diễn dùng ngôn ngữ sân khấu, âm nhạc, ánh sáng và hơn 500 nghệ sĩ để đưa khán giả trở về sống lại năm thế kỷ phát triển của thành phố Hội An. Mặc dù được nhà sử học Dương Trung Quốc cố vấn về lịch sử, Ký ức Hội An cũng không tránh khỏi việc dùng hư cấu nghệ thuật để tái tạo lịch sử bằng sân khấu và âm nhạc. Một trong năm màn quan trọng là đám cưới của Quốc vương Chiêm Thành Chế Mân và Huyền Trân Công Chúa người Việt. Theo sử sách, công chúa Huyền Trân chưa bao giờ đặt chân đến Hội An, và đám cưới xảy ra vào thế kỷ 14, tức nằm ngoài giai đoạn phát triển của cảng biển Hội An, vốn dĩ chỉ bắt đầu từ thế kỷ 16, lúc người Nhật và Trung Hoa bắt đầu giao thương buôn bán với cư dân Hội An. Tuy thế, qua màn trình diễn, tinh thần lịch sử vẫn được giữ trọn vẹn để các nghệ sĩ có thể phục chế được nền văn minh Chiêm Thành lúc ấy, tinh thần hợp tác hài hòa giữa hai dân tộc Việt – Chiêm và sự hy sinh âm thầm của công chúa Huyền Trân trong sự nghiệp của vua cha về việc mở mang bờ cõi xuống phương Nam.

Bên cạnh các yếu tố lịch sử, việc sử dụng nhiều chi tiết hư cấu mang tính biểu tượng đó đã giúp các nghệ sĩ diễn đạt xuất thần vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp duy trì và phát triển nền văn hóa bản địa. Nhân vật nữ xuyên suốt show diễn không phải là nhân vật lịch sử cụ thể, mà tượng trưng cho người phụ nữ Hội An qua nhiều thế hệ. Hình ảnh Huyền Trân Công Chúa xuất hiện trong show cũng mang ý nghĩa biểu tượng cho sự hy sinh và quá trình mở rộng biên cương, mặc dù hình ảnh ấy không phản ánh chính xác một sự kiện lịch sử nào đã xảy ra trên đất Hội An. Những yếu tố lịch sử vừa hư vừa thực đan xen nhau, giúp cho câu chuyện trở nên liền mạch, giàu cảm xúc và khán giả dễ bị cuốn hút vào dòng lịch sử của Hội An.

Qua chương trình, người xem không chỉ hiểu thêm về lịch sử Hội An mà còn cảm nhận được linh hồn của đô thị cổ hơn 500 năm. Linh hồn đó là sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam, Chiêm Thành, Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ và châu Âu, với tinh thần cởi mở, hòa nhịp và khả năng thích nghi của con người Hội An qua nhiều biến động của thời gian. Dù không phải là một tác phẩm lịch sử hoàn toàn chính xác, “Ký ức Hội An” vẫn thành công trong việc truyền tải tinh thần lịch sử và khơi gợi niềm tự hào về di sản văn hóa dân tộc. Đây là một sáng tạo nghệ thuật vô cùng độc đáo mang giá trị giáo dục, làm cho lịch sử không còn là câu chuyện khô khan, mà trở nên sinh động và lôi cuốn khán giả. Show diễn này quả là một cách tiếp cận lịch sử liều lĩnh, sáng tạo, dùng hư cấu nghệ thuật sân khấu để làm sống lại sự thật lịch sử trong lòng người xem, một loại hình văn hóa mà cho đến nay, chúng ta chỉ biết qua các tiểu thuyết giả sử.

Một show diễn không thể bỏ qua đối với mọi du khách khi viếng thăm Hội An.

Ba ngày trôi qua thật nhanh, vào sáng hôm sau, chúng tôi trở về Đà Nẵng để tiếp tục hành trình về Huế. Cô Liễu chủ khách sạn dúi vào tay chúng tôi một gói lớn. Mở ra xem thì toàn là đặc sản Huế còn nóng hổi, gồm bánh nậm, bánh bột lọc nhân tôm, bánh ít, bánh su sê và có cả nước mắm đi kèm. Cô ấy nói là biếu cô chú để ăn dọc đường hôm nay và sáng mai trước khi lên tàu về Huế. Chúng tôi ngẩn người, quá đỗi ngạc nhiên và vô cùng cảm kích. Có người chủ khách sạn nào khác có được tấm lòng hiếu khách tương tự như vậy? Nó làm chúng tôi càng yêu mến con người vùng cảng biển này hơn trước.

Tôn Thất Thông
Bad Nauheim, tháng giêng năm 2026
(Còn tiếp: Huế, Hà Nội, Ninh Bình, Phú Quốc)

Xem bài trước: Về thăm quê hương (1) – Saigon, hoa và lệ

Trở về trang chủ
Xem thêm các bài viết và dịch của Tôn Thất Thông

Sân khấu lộ thiên Ký ức Hội An