Tác giả: Nguyễn Hữu Đổng
Loài người có nguồn gốc từ đâu? Đây là câu hỏi hàng thế kỷ còn bỏ ngỏ, chưa được giới học thuật làm rõ thực chất. Bằng tư duy sự thật, tác giả làm sáng tỏ nguồn gốc của loài người; nguồn gốc loài người chính là con đường vũ trụ – con đường phát triển – con đường hạnh phúc đích thực của loài người; đồng thời khuyến nghị hiểu đúng đắn khái niệm, nguồn gốc, loài người, phát triển, văn minh, xây dựng xã hội loài người phát triển văn minh.
Where do humans originate from? This is a question that has remained open for centuries, the reality has not yet been clarified by the academic community. By thinking about the truth, the author sheds light on the origin of mankind; human origin is the cosmic path – development path – the true path of human happiness; at the same time, it is recommended to properly understand the concept, origin, human, develop, civilized, build a civilized and developed human society.
Thực chất tư duy sự thật
Để làm sáng tỏ nguồn gốc loài người, trước hết cần làm rõ tư duy sự thật – chân thật (chân thực, trung thực). Tư duy sự thật gắn với loài người; bởi vì, thiếu loài người là thiếu tư duy sự thật. Theo đó, tư duy sự thật hiểu theo ba nghĩa sau: tính chất tư duy không trung thực của cá nhân, cá thể người không phát triển; bản chất tư duy chưa trung thực của nhóm, tập thể người chưa phát triển; thực chất tư duy sự thật của cộng đồng, xã hội loài người phát triển. Điều đó có nghĩa, tư duy sự thật là tư duy chân thật của loài người; loài người tư duy không chân thật không phát triển.
Bằng tư duy sự thật, con người làm rõ được mọi vấn đề cuộc sống, thể hiện trong tư duy các khái niệm. Chẳng hạn như tư duy khái niệm ý thức, hạnh phúc, Phật, kẻ địch, sự sống, môi trường sống, quan hệ giữa thiên nhiên và loài người, quan hệ giữa văn hóa và phát triển, quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, hay nguồn gốc sự sống.
Tư duy ý thức cho thấy rằng, tư duy tinh thần không tự do học thuật, không liêm chính khoa học; tư duy vật chất thiếu tự do học thuật, chưa liêm chính khoa học; tư duy ý thức có tự do học thuật, liêm chính khoa học, dạng mô hình: bản chất vật chất chưa liêm chính học thuật – thực chất ý thức liêm chính học thuật – tính chất tinh thần không liêm chính học thuật. Điều đó có nghĩa, tư duy ý thức là tư duy học thuật; hay học thuật là ý thức loài người trung thực; loài người không trung thực thì không có học thuật (people who are not honest do not have scholarship). Chẳng hạn, người tư duy trung thực là người có tri thức; người tư duy giả dối thì ăn cắp tri thức; người ăn cắp tri thức là người thiếu ý thức.
Tư duy hạnh phúc cho thấy rằng, tính chất tinh thần cá nhân không thật, không tư duy tự do; bản chất vật chất nhóm chưa thật, chưa thật chưa tư duy độc lập; thực chất ý thức cộng đồng chân thật – sự thật, tư duy độc lập tự do hạnh phúc, dạng mô hình: bản chất tư duy chưa thật chưa độc lập – thực chất tư duy độc lập tự do hạnh phúc – tính chất tư duy không thật không tự do. Điều đó có nghĩa, tư duy hạnh phúc là tư duy sự thật; tư duy không tư do là tư duy không thật; tư duy chưa độc lập là tư duy chưa thật; loài người không tư duy sự thật không hạnh phúc (humans who do not think about the truth are not happy).
Tư duy Phật cho thấy rằng, tư duy bằng tinh thần không chân thật, tính chất sức sống không thật không là Phật; tư duy bằng vật chất chưa chân thật, bản chất sự sống chưa thật chưa là Phật; tư duy bằng ý thức chân thật, thực chất cuộc sống chân thật là Phật, dạng mô hình: bản chất sự sống chưa chân thật chưa là Phật – thực chất cuộc sống chân thật là Phật – tính chất sức sống không chân thật không là Phật. Điều đó có nghĩa, Phật là cuộc sống chân thật của loài người; hay Phật chính là loài người sống chân thật; loài người không chân thật thì không là Phật, hay loài người không thật sự là loài người. Theo đó, tư duy Phật là tư duy chân thật; tư duy chân thật là tư duy Phật – tư duy của loài người.
Tư duy kẻ địch hay kẻ phản động cho thấy rằng, tư duy sức sống là không trung thực, tính chất cá thể là phản động trong ta (individuality reactionary is us); tư duy sự sống cũng không trung thực, bản chất tập thể người chưa là bạn bè; tư duy cuộc sống là trung thực, thực chất xã hội loài người là bạn bè, dạng mô hình: tập thể người chưa là bạn bè – xã hội loài người là bạn bè – cá thể người là phản động. Điều đó có nghĩa, xã hội loài người là có phản động; hay phản động vẫn là loài người; loài người trung thực có sức sống phản động. Theo đó, tư duy kẻ phản động là không trung thực; bởi về thực chất, loài người chỉ có bạn bè yêu nhau, chứ không có phản động độc ác với nhau (but there is no cruel reaction to each other). Nói cách khác, loài người cần yêu phản động trung thực loài người, hay “yêu kẻ thù” trung thực trong xã hội loài người [1]; loài người không yêu loài người phản động – tư tưởng đối lập, hay người không yêu người là còn chiến tranh; người yêu người thì hết chiến tranh.
Tư duy sự sống cho thấy rằng, tư duy bằng tinh thần là sự không thật, sự không sống tiến hóa không phát triển; tư duy bằng vật chất là sự chưa thật, sự chưa sống chưa tạo hóa chưa phát triển; tư duy bằng ý thức là sự thật, sự sống tạo hóa phát triển, dạng mô hình: bản chất chưa sống chưa tạo hóa phát triển – thực chất sự sống tạo hóa phát triển – tính chất không sống tiến hóa không phát triển. Điều đó có nghĩa, sự sống là tạo hóa phát triển; tạo hóa phát triển là có sự sống các loài, có sự sống loài người; không phát triển là không có sự sống loài người. Theo đó, phát triển gắn với sự sống loài người; còn tiến hóa không gắn với sự sống loài người; tức không có tiến hóa của sự sống, hay tiến hóa là “hoàn toàn sai” – “sự lừa dối vĩ đại” [2], không thể “loài người đã tiến hóa từ vượn người” như có người nghiên cứu nêu ra, mà phát triển sự sống hay sự sống phát triển.
Tư duy môi trường sống cho thấy rằng, tính chất tư duy không thật môi trường sống, sự không sống của loài người không tiến hóa văn hóa; bản chất tư duy chưa thật môi trường sống, sự chưa sống của loài người chưa tạo hóa văn hóa; thực chất tư duy sự thật môi trường sống, sự sống của loài người do tạo hóa văn hóa. Điều đó có nghĩa, môi trường sống hay sự sống loài người do tạo hóa văn hóa; loài người không văn hóa là thiếu môi trường sống, không có sự sống loài người. Theo đó, sự sống phát triển là tạo hóa văn hóa, chứ không phải “tiến hóa văn hóa” [3], hay tiến hóa của tri thức. Nói cách khác, trong xã hội loài người có phát triển văn hóa, hay văn hóa phát triển chứ không phải tiến hóa.
Tư duy quan hệ giữa thiên nhiên và loài người cho thấy rằng, sự thật thiên nhiên do vũ trụ tạo hóa ra; đến lượt nó – thiên nhiên tạo hóa ra loài người. Tức là, loài người không thể cải tạo thiên nhiên, không thể chủ quan trong cải tạo tự nhiên, hay “cải biến tự nhiên” như một số người đề xuất; bởi vì, có tự nhiên thì mới có xã hội các loài, hay có tự nhiên là có xã hội loài người. Do vậy, tôn trọng tự nhiên là bảo vệ chính loài người; không tôn trọng tự nhiên loài người thiếu sự sống. Nói cách khác, loài người có thể vị tha cho loài người; nhưng thiên nhiên không vị tha cho loài người, bởi loài người đang hàng ngày tàn phá thiên nhiên, đe doạ đến sự diệt vong của chính loài người (threatens the destruction of humanity itself).
Tư duy quan hệ giữa văn hóa và phát triển cho thấy rằng, tính chất văn hóa không chân thật phát triển, cá nhân cá thể không phát triển bền vững; bản chất văn hóa chưa chân thật phát triển, nhóm tập thể chưa phát triển bền vững; thực chất văn hóa chân thật phát triển, cộng đồng xã hội phát triển bền vững. Điều đó có nghĩa, phát triển chính là cách phát triển có văn hóa, tức phát triển bền vững – phát triển hài hòa lâu bền môi trường, công bằng bình đẳng công lý vững chắc của các loài trong thế giới tự nhiên; hay phát triển bền vững là môi trường sống lâu bền vững chắc của các loài. Theo đó, không có văn hóa không có phát triển bền vững; hay phát triển không bền vững không có văn hóa; môi trường sống phát triển bền vững là văn hóa. Nói cách khác, văn hóa chính là phát triển bền vững, phát triển bền vững chính là văn hóa; hiểu biết văn hóa là hiểu được sự phát triển, hiểu biết sự phát triển là hiểu được văn hóa; hiểu biết văn hóa là hiểu được các khái niệm, hay hiểu được tri thức khoa học cuộc sống. Chẳng hạn, hiểu biết văn hóa là hiểu biết con người, hay hiểu được con người phát triển, hiểu được con người tâm linh – con người chân thật.
Tư duy quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển cho thấy rằng, sự thật loài người không thể tăng trưởng mãi, càng tăng trưởng thì càng không phát triển, càng phá hoại môi trường thiên nhiên; bởi vì, loài người không hiểu rằng, tăng trưởng bao hàm ba mặt sau: tính chất tăng trưởng về số là không phát triển, bản chất tăng trưởng về chất là chưa phát triển, thực chất tăng trưởng về chất lượng là phát triển. Nói cách khác, tăng trưởng cần gắn với chất lượng hiệu quả; tăng trưởng là kinh tế thiếu chất lượng hiệu quả; tăng trưởng hay không phát triển là loài người sẽ diệt vong do hết môi trường sống. Chẳng hạn, loài người phá rừng tự nhiên, huỷ diệt động vật hoang dã sự sống mất dần. Do vậy, bảo vệ môi trường sống tự nhiên và xã hội là yêu cầu cấp thiết hiện nay của loài người. Theo đó, tác giả của khảo luận này dự báo rằng, không bảo đảm phát triển bền vững môi trường sống, loài người có thể diệt vong sau hai trăm năm (humanity could perish in two hundred years).
Tư duy nguồn gốc sự sống cho thấy rằng, tính chất sống là sự thật không văn hóa, không hiểu biết sự không sống không phát triển, không có nguồn gốc sự sống; bản chất sống là sự thật chưa văn hóa, chưa hiểu biết sự chưa sống chưa phát triển, chưa có nguồn gốc sự sống; thực chất sống là sự thật văn hóa, hiểu biết sự sống phát triển, có nguồn gốc sự sống. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc sự sống gắn với sự thật văn hóa, hay gắn với sự chân thật hiểu biết khái niệm; loài người không chân thật không hiểu biết khái niệm, hay không hiểu khái niệm sự sống phát triển, không hiểu khái niệm nguồn gốc sự sống. Do vậy, tư duy nguồn gốc sự sống là phát triển; tư duy thật là tư duy nguồn gốc sự sống. Theo đó, nguồn gốc sự sống là tư duy phát triển; tư duy phát triển là nguồn gốc sự sống, hay tư duy “môi trường sống phát triển” – tức tư duy hài hòa công lý về sự sống các loài trong thế giới tự nhiên; nguồn gốc sự sống từ đạo vũ trụ phát triển, tức quỹ đạo vòng quay của trái đất – quỹ đạo của “(trái đất tự quay xung quanh nó và quay xung quanh mặt trời)”, dạng mô hình: “thời gian ở bên trong vũ trụ – thế gian ở giữa bên ngoài, bên trong vũ trụ – không gian ở bên ngoài vũ trụ” [4]. Nói cách khác, không hiểu sự sống không hiểu loài người phát triển (if you don’t understand life, you don’t won’t understand human development); không có nguồn gốc sự sống không có loài người; không có loài người không có khái niệm nói chung, tư duy nguồn gốc sự sống, tư duy nguồn gốc loài người nói riêng.
Thực chất nguồn gốc loài người
Bằng tư duy phát triển cho thấy rằng, khái niệm phát triển chính là nguồn gốc loài người; nguồn gốc loài người chỉ là một khái niệm. Theo đó, khái niệm nguồn gốc loài người gồm các mặt như sau: tính chất sức sống loài người không trung thực, môi trường sống không phát triển không có nguồn gốc loài người; bản chất sự sống loài người chưa trung thực, môi trường sống chưa phát triển chưa có nguồn gốc loài người; thực chất cuộc sống loài người trung thực, môi trường sống phát triển có nguồn gốc loài người. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người từ môi trường sống phát triển; chính môi trường sống phát triển sinh ra loài người; môi trường sống phát triển là nguồn gốc các loài, trong đó có loài người. Nói cách khác, nguồn gốc loài người là từ loài người phát triển; không phát triển là loài người dần bị diệt vong (without development, humanity will gradually perish).
Định nghĩa nguồn gốc loài người nêu trên cho thấy rằng, thiếu môi trường sống trong lành không có loài người; loài người trung thực có môi trường sống trong lành.Tức loài người trung thực là nguồn gốc loài người; loài người trung thực bảo vệ được nguồn cội của mình.Nói cách khác, loài người có nguồn gốc từ loài người trung thực; nguồn gốc loài người từ loài người có văn hóa; loài người không văn hóa thì không phải loài người (if humans are dishonest, humanity will perish). Theo đó, nguồn gốc loài người có hai đặc điểm như sau:
1.Nguồn gốc loài người gắn với sự thật trong cuộc sống. Chẳng hạn, nguồn gốc loài người gắn với sự thật khái niệm, triết học, trái đất quay vòng, ý thức, chúng ta, giác ngộ, thiền, hòa bình, lịch sử, toán, kinh tế, chính trị, chân lý, pháp quyền, quyền lực, quyền con người hay quy luật phát triển.
Nguồn gốc loài người gắn với khái niệm cho thấy rằng, tính chất khái niệm không thật không chân thật, loài người không có nguồn gốc; bản chất khái niệm chưa thật chưa chân thật, loài người chưa có nguồn gốc; thực chất khái niệm sự thật chân thật, loài người có nguồn gốc. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người là khái niệm sự thật, hay khái niệm chân thật là nguồn gốc loài người; còn không chân thật không là nguồn gốc loài người.Theo đó, khái niệm nguồn gốc loài người là sự thật; sự thật nguồn gốc loài người là khái niệm.Nói cách khác, khái niệm chính là nguồn gốc loài người; hiểu khái niệm là hiểu nguồn gốc loài người.
Nguồn gốc loài người gắn với triết học cho thấy rằng, tính chất triết học không văn hóa không phát triển, loài người không có nguồn gốc; bản chất triết học chưa văn hóa chưa phát triển, loài người chưa có nguồn gốc; thực chất triết học văn hóa phát triển, loài người có nguồn gốc. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người là triết học văn hóa, triết học phát triển, hay triết học phát triển là nguồn gốc loài người; còn phản triết học không là nguồn gốc loài người.Theo đó, triết học văn hóa là loài người văn hoá; triết học phát triển là loài người phát triển, hay loài người phát triển là triết học phát triển. Nói cách khác, triết học loài người là nguồn gốc loài người; hiểu biết loài người là nguồn gốc loài người; hiểu biết triết học là hiểu nguồn gốc loài người; nguồn gốc loài người chính là khái niệm triết học (human origin is a philosophical concept), khái niệm triết học là loài người có nguồn cội (the philosophical concept is that humanity has origins).
Nguồn gốc loài người gắn với trái đất quay vòng cho thấy rằng, trái đất quay nhanh không có sự sống, thời gian bên trong vũ trụ chưa phát triển, loài người không có nguồn gốc; trái đất quay chậm thiếu sự sống, không gian bên ngoài vũ trụ không phát triển, loài người cũng không có nguồn gốc; trái đất quay vòng cân đối, cân bằng, hài hòa có sự sống, thế gian giữa trong ngoài vũ trụ phát triển, loài người có nguồn gốc. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người do trái đất tự quay vòng cân đối, cân bằng, hài hòa trong vũ trụ hệ mặt trời; hay trái đất, vũ trụ phát triển là có sự sống, có nguồn gốc loài người; trái đất, vũ trụ không phát triển không nguồn gốc loài người. Nói cách khác, trái đất quay nhanh là trái đất nóng; trái đất quay chậm là trái đất lạnh; trái đất quay hài hòa là trái đất xanh – trái đất có sự sống các loài.Tức là, bảo vệ môi trường sống là cấp bách để trái đất không nóng lên, duy trì sự sống các loài trên trái đất của vũ trụ hệ mặt trời.
Nguồn gốc loài người gắn với ý thức cho thấy rằng, loài người không ý thức là không có nguồn gốc, tính chất không thật loài người không văn hoá; loài người thiếu ý thức là thiếu nguồn gốc, bản chất chưa thật loài người chưa văn hoá; loài người có ý thức là có nguồn gốc, thực chất sự thật loài người là văn hoá. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người là loài người có ý thức, hay nguồn gốc loài người là loài người văn hoá; ý thức văn hóa chính là nguồn gốc loài người.Theo đó, loài người không có ý thức, hay không văn hóa là không có cội nguồn; loài người có văn hóa là có cội nguồn. Nói cách khác, loài người có nguồn gốc từ loài người văn hoá; loài người sống không trung thực, hay sống không văn hóa là không có cội nguồn; sống không tâm linh cũng không có cội nguồn (living without spirituality also has no roots).
Nguồn gốc loài người gắn với chúng ta cho thấy rằng, loài người không chân thật là không có chúng ta, chúng ta không văn hóa thiếu sự sống; loài người thiếu chân thật thiếu chúng ta, chúng ta thiếu văn hóa thiếu sự sống; loài người chân thật là có chúng ta, chúng ta văn hóa là có sự sống. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người là “nguồn gốc chúng ta” – tức nguồn gốc sự sống các loài. Theo đó, các loài thiếu nguồn gốc là ta thiếu nguồn gốc, hay chúng ta thiếu nguồn gốc. Nói cách khác, loài người chúng ta chân thật có nguồn gốc; sự sống các loài phụ thuộc chúng ta văn hoá; chúng ta không văn hóa cũng chẳng có chúng ta (we are neither culture nor we), tức chẳng có sự sống chúng ta trên trái đất (that is, there is no life for us on earth).
Nguồn gốc loài người gắn với giác ngộ (hiểu biết) cho thấy rằng, loài người không chân thật là không giác ngộ, cá nhân dốt không hiểu nguồn gốc loài người; loài người chưa chân thật là chưa giác ngộ, nhóm dốt chưa hiểu nguồn gốc loài người; loài người chân thật là giác ngộ, cộng đồng không dốt hiểu nguồn gốc loài người. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người là loài người chân thật, hay loài người giác ngộ nguồn gốc của mình. Tức là, loài người không giác ngộ loài người không nguồn gốc, hay loài người không hiểu biết cội nguồn của mình. Theo đó, loài người giác ngộ là loài người có nguồn gốc, hay loài người biết cội nguồn của mình; loài người không giác ngộ thì không hiểu cội nguồn; nguồn gốc loài người chính là loài người giác ngộ. Nói cách khác, người giác ngộ trung thực là có tâm trong người; người hiểu biết trung thực là có tâm trong người (a person with honest understanding has heart in him). Do vậy, cần giáo dục giác ngộ trung thực cho con người; hay giáo dục con người biết tư duy trung thực.
Nguồn gốc loài người gắn với thiền cho thấy rằng, loài người không chân thật không là thiền, cá nhân hành khất không hiểu nguồn gốc loài người; loài người chưa chân thật chưa là thiền, nhóm hành khất chưa hiểu nguồn gốc loài người; loài người chân thật là thiền, cộng đồng hành khất hiểu nguồn gốc loài người. Điều đó có nghĩa, loài người thiền là nguồn gốc loài người; loài người không thiền loài người không nguồn gốc, hay loài người không có cội nguồn của mình. Theo đó, loài người thiền là loài người chân thật; loài người không thiền là loài người không chân thật (humans who do not meditate are humans who are not genuine); loài người không thiền chân thật là vô đạo đức (humans beings who do not meditate truly are immoral). Nói cách khác, thiền trung thực chính là nguồn gốc loài người, người thiền trung thực là có tâm trong người; người chân thật là người có tâm trong người. Do vậy, cần giáo dục thiền chân thật cho con người; hay giáo dục con người biết thiền chân thật, giáo dục mỗi người biết làm người chân thật (educate everyone to know how to be an honest person).
Nguồn gốc loài người gắn với hòa bình cho thấy rằng, không có nguồn gốc loài người không có hòa bình thật sự, loài người không trung thực có chiến tranh; chưa có nguồn gốc loài người chưa có hòa bình thật sự, loài người thiếu trung thực vẫn có chiến tranh; có nguồn gốc loài người có hòa bình thật sự, loài người trung thực không có chiến tranh. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người là hòa bình thật sự; hòa bình thật sự là nguồn gốc loài người; không hòa bình thật sự loài người không nguồn gốc (without true peace, humanity has no origin), tức loài người không có cội nguồn của mình (that is, humanity does not have its own origin). Nói cách khác, loài người không trung thực không hòa bình thật sự, loài người vẫn có chiến tranh; loài người trung thực là có hòa bình thật sự, loài người không có chiến tranh. Do đó, loài người cần trung thực, xây dựng nền hòa bình thật sự cho nhân loại, tạo hóa cuộc sống hạnh phúc cho chính loài người (creating a happy life for humanity).
Gắn nguồn gốc loài người với lịch sử cho thấy rằng, lịch sử cá nhân không thật không phát triển, loài người chưa có nguồn gốc; lịch sử nhóm chưa thật chưa phát triển, loài người chưa có nguồn gốc; lịch sử cộng đồng chân thật phát triển, loài người có nguồn gốc. Điều đó có nghĩa, lịch sử phát triển là nguồn gốc loài người; loài người thiếu cội nguồn thiếu lịch sử chân thật (humanity lacks roots and lacks a true history); loài người thiếu lịch sử chân thật thiếu cội nguồn (humanity lacks a true history and lacks roots). Nói cách khác, nguồn gốc loài người là lịch sử phát triển, bởi lịch sử phát triển bảo đảm môi trường sống phát triển của loài người.
Gắn nguồn gốc loài người với toán cho thấy rằng, toán không chân thật không phát triển, loài người chưa có nguồn gốc; toán chưa chân thật chưa phát triển, loài người chưa có nguồn gốc; toán chân thật phát triển, loài người có nguồn gốc. Điều đó có nghĩa, toán phát triển là nguồn gốc loài người, hay toán phát triển “người phát triển” – người được bảo đảm hài hòa về môi trường, công bằng bình đẳng công lý về sự sống (justice equality justice about life); toán thiếu chân thật loài người thiếu cội nguồn (mathematics lacks authenticity, humanity lacks roots). Nói cách khác, nguồn gốc loài người là toán phát triển (human origin is developmental mathematics); toán thiếu chân thực, hay toán học thiếu văn hóa loài người tiêu vong (or without mathematics, humanity will perish). Chẳng hạn, không nguồn gốc loài người là toán hình thức không phát triển (1+1=2), chưa nguồn gốc loài người là toán nội dung chưa phát triển (1+1=3), nguồn gốc loài người là toán nguyên lý phát triển (1+1=5), hay toán phát triển là nguồn gốc loài người (or developmental mathematics is the origin of humanity); chế tạo vũ khí hạt nhân toán thiếu văn hoá, bởi có nguy cơ làm loài người tiêu vong (because there is a risk that humanity will perish).
Gắn nguồn gốc loài người với kinh tế cho thấy rằng, loài người chưa có nguồn gốc chưa có sản xuất, loài người chưa có kinh tế chân thật phát triển; loài người không có nguồn gốc không có kinh doanh, loài người không có kinh tế chân thật phát triển; loài người có nguồn gốc có sản xuất kinh doanh dịch vụ, loài người có kinh tế chân thật phát triển. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người là từ kinh tế phát triển, hay từ loài người phát triển kinh tế chân thật; loài người thiếu kinh tế chân thật thiếu nguồn gốc (humanity lacks true econonics and lacks origins); thiếu kinh tế phát triển loài người thiếu cội nguồn, bởi thiếu kinh tế phát triển không bảo đảm môi trường sống phát triển của loài người. Chẳng hạn, kinh tế số dương không có nguồn gốc loài người, không bảo đảm môi trường sống phát triển; kinh tế số âm chưa có nguồn gốc loài người, chưa bảo đảm môi trường sống phát triển; kinh tế số thực có nguồn gốc loài người, bảo đảm môi trường sống phát triển. Theo đó, không thể “phát triển kinh tế số” như một số người nêu ra.
Gắn nguồn gốc loài người với chính trị cho thấy rằng, loài người chưa có nguồn gốc, nhóm chưa có chính trị chân thật phát triển; loài người không có nguồn gốc, cá nhân không có chính trị chân thật phát triển; loài người có nguồn gốc, cộng đồng có chính trị chân thật phát triển. Theo đó, nguồn gốc loài người là từ chính trị phát triển, hay từ chính trị chân thật phát triển (or from genuine political development); loài người thiếu chân thật chính trị là thiếu nguồn gốc; thiếu chính trị phát triển loài người thiếu cội nguồn (without political development, humanity lacks roots). Nói cách khác, chính trị không chân thật loài người không nguồn gốc (politics is not true, humanity has no origin), bởi vì, chính trị không chân thật là có chiến tranh, loài người không phát triển; chính trị chân thật loài người có nguồn gốc (true politics of human origin), bởi vì, chính trị chân thật, loài người có hòa bình và phát triển.
Gắn nguồn gốc loài người với chân lý cho thấy rằng, vật chất của nhóm chưa thật chưa chân lý, loài người chưa phát triển chưa trở về cội nguồn; tinh thần của cá nhân không thật không chân lý, loài người không phát triển không trở về nguồn cội; ý thức của cộng đồng sự thật chân lý, loài người phát triển trở về được cội nguồn (humanity has developed and returned to its roots). Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người là sự thật chân lý, hay từ loài người chân thật phát triển mà có; loài người thiếu chân thật phát triển thiếu chân lý; thiếu chân lý là loài người thiếu cội nguồn. Nói cách khác, nguồn gốc loài người chính là chân lý cuộc sống (human orgin is the truth of life); loài người không phát triển là không có chân lý (if humanity does not develop, there is no truth); sống có chân lý loài người về được cội nguồn (living with truth, humanity can return to its roots).
Gắn nguồn gốc loài người với lập pháp, hành pháp, tư pháp cho thấy rằng, nhóm người chưa phát triển chưa có nguồn gốc, chưa có quyền hành pháp đối lập; cá nhân người không phát triển không có nguồn gốc, không có quyền lập pháp độc lập; cộng đồng người phát triển có nguồn gốc, có quyền lập pháp độc lập, hành pháp đối lập, tư pháp trung lập, dạng mô hình: hành pháp đối lập – tư pháp trung lập – lập pháp độc lập. Điều đó có nghĩa, loài người có nguồn gốc từ tam quyền phân lập; thiếu tam quyền phân lập loài người thiếu nguồn gốc. Nói cách khác, nguồn gốc loài người chính là tam quyền phân lập; tam quyền phân lập chính là nguồn gốc loài người (the separation of powers is the origin of humanity), bởi tam quyền phân lập bảo đảm môi trường sống phát triển của loài người.
Gắn nguồn gốc loài người với pháp quyền cho thấy rằng, nhóm người chưa phát triển chưa có nguồn gốc, chưa có quốc gia pháp quyền; cá nhân người không phát triển không có nguồn gốc, không có quốc gia pháp quyền; cộng đồng người phát triển có nguồn gốc, có quốc gia pháp quyền. Điều đó có nghĩa, loài người có nguồn gốc từ quốc gia pháp quyền; thiếu quốc gia pháp quyền loài người thiếu nguồn gốc (lacking a nation with the rule of law, humanity lacks origins). Nói cách khác, quốc gia – nước pháp quyền chính là nguồn gốc loài người (nation – the rule of is the origin of humanity); không có nước pháp quyền loài người không nguồn gốc (without the rule of law, humanity has no origin), bởi không có nước pháp quyền không bảo đảm được môi trường sống phát triển của loài người. Theo đó, không thể có “nhà nước pháp quyền” như một số người nghiên cứu nêu ra.
Gắn nguồn gốc loài người với quyền lực cho thấy rằng, nhóm người chưa có nguồn gốc chưa có quyền lực, tập thể người chưa trung thực chưa về được nguồn cội; cá nhân người không có nguồn gốc không có quyền lực, cá thể người không trung thực không về được nguồn cội; cộng đồng người có nguồn gốc là có quyền lực, xã hội loài người trung thực về được nguồn cội (human society honestly returns to its roots). Điều đó có nghĩa, loài người có nguồn gốc từ quyền lực trung thực, hay từ quyền lực hạnh phúc mà có; thiếu quyền lực hạnh phúc loài người thiếu nguồn gốc (without power, human happiness lacks origin). Nói cách khác, quyền lực hạnh phúc chính là nguồn gốc loài người (the power of happiness is the origin of humanity); loài người không hạnh phúc là không có nguồn gốc (un unhappy human race has no origin); không hạnh phúc loài người không về được cội nguồn (unhappy humanity cannot return to its roots). Theo đó, không thể có “quyền lực cứng”, “quyền lực mềm”, “quyền lực thông minh” như một số người nghiên cứu nêu ra.
Gắn nguồn gốc loài người với quyền con người cho thấy rằng, loài người chưa có nguồn gốc chưa có quyền sống, chưa có quyền con người; loài người không nguồn gốc không có quyền tự do, không có quyền con người; loài người có nguồn gốc có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, có quyền con người. Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người là “quyền con người” – khái niệm biểu hiện thực chất nhân quyền; loài người thiếu quyền con người là thiếu nguồn gốc (humanity lacks human rights and lacks origins); thiếu quyền con người là loài người thiếu cội nguồn (without human rights, humanity lacks roots). Nói cách khác, quyền con người là nguồn gốc loài người (human rights are the origin of humanity); hay nhân quyền chính là nguồn gốc loài người (or human rights are the origin of humanity); loài người không phát triển không có nhân quyền (humanity does not develop without human rights); có nhân quyền loài người về được cội nguồn (have the human right to return to its roots).
Gắn nguồn gốc loài người với quy luật phát triển cho thấy rằng, bản chất loài người chưa có cội nguồn, loài người chưa có quy luật phát triển; tính chất loài người không có cội nguồn, loài người không có quy luật phát triển; thực chất loài người có cội nguồn, loài người có “quy luật phát triển” – quy luận cân đối cân bằng hài hòa, công bằng bình đẳng công lý về môi trường sống của loài người. Điều đó có nghĩa, loài người phát triển theo “quy luật tự nhiên” – quy luật gắn với gen ADN của muôn loài; gen của loài người trung bình là 37độC (the average human gene is 37 degrees Celsius). Theo đó, quy luật phát triển của tự nhiên xã hội là nguồn gốc loài người; thiếu quy luật phát triển loài người thiếu cội nguồn (lacking laws of human development, lacking roots), tức thiếu môi trường sống phù hợp với thân nhiệt 37độC của người (that is, lacking a suitable living environment for the body temperature of 37 degrees Celsius). Nói cách khác, mất môi trường sống loài người tự huỷ diệt mình (losing the living environment, humanity destroys itself). Chẳng hạn như: hủy hoại môi trường thiên nhiên, biến đổi khí hậu làm trái đất nóng lên, sự sống ngày càng mất dần; đặc biệt huỷ hoại cuộc sống trung thực của loài người.
2. Nguồn gốc loài người trái ngược với sự giả dối trong cuộc sống, hay trái ngược với “chủ nghĩa” (sự thiên lệch) – khái niệm biểu hiện căn bệnh của loài người, tức loài người lệch lạc về tri thức khoa học (that is, humans are deviant in scientific knowledge). Bệnh này không có ở loài vật; bởi vì loài vật không biết chủ nghĩa, không biết tư duy phát triển do không có ngôn ngữ. Chẳng hạn, nguồn gốc loài người trái ngược đạo đức giả, giai cấp, nhà nước, tư tưởng sai lầm, chủ nghĩa tư bản, quốc gia, thực dân, dân tộc, cộng đồng, xã hội, yêu nước, nhân đạo, hiện thực, đa phương, toàn cầu hoá, hay thuyết địa tâm và nhật tâm.
Nguồn gốc loài người trái ngược đạo đức giả (sự ngu muội) cho thấy rằng, đạo đức giả không có nguồn gốc loài người, người ngu muội không có nguồn gốc loài người; đạo đức thiếu trung thực thiếu nguồn gốc loài người, người chưa văn minh chưa có nguồn gốc loài người; đạo đức trung thực là nguồn gốc loài người (honest morality is the origin of humanity), người văn minh có nguồn gốc loài người (civilized people have human origins). Điều đó có nghĩa, loài người đạo đức trung thực là có nguồn gốc; loài người văn minh là nguồn gốc loài người; đồng thời, “ngu muội từng bước được đẩy lùi” (simultaneously, “ignorance gradually repelled”) [5], hay loài người giải thoát khỏi “khổ đau” – khái niệm biểu hiện loài người thiếu cội nguồn. Theo đó, loài người đạo đức thiếu trung thực thiếu nguồn gốc; tức loài người kiêu ngạo là thiếu nguồn gốc. Nói cách khác, đạo đức trung thực là loài người phát triển; đạo đức giả thì loài người tiến hóa (hypocrisy causes humanity to evolve), tức loài người đã mắc “bẫy tiến hoá” – khái niệm biểu hiện loài người không trung thực, hay loài người ngu dốt không phát triển (or stupid humans do not develop).
Nguồn gốc loài người trái ngược với giai cấp cho thấy rằng, tính chất giai cấp không nguồn gốc loài người, hình thức khoa học không đúng; bản chất giai cấp cũng không nguồn gốc loài người, nội dung khoa học chưa đúng; thực chất giới người là nguồn gốc loài người, nguyên lý khoa học đúng. Điều đó có nghĩa, không có giai cấp người mà chỉ có giới người trong cộng đồng xã hội.Tức là, giới không chân thật không có nguồn gốc loài người, giới thiếu chân thật thiếu nguồn gốc loài người, giới chân thật thì có nguồn gốc loài người.Nói cách khác, giai cấp chính là khái niệm bị đánh tráo – khái niệm không liêm chính, còn giới là khái niệm liêm chính; nguồn gốc loài người là giới người chân thật; giới người không chân thật thì không có nguồn gốc.Theo đó, không thể có giai cấp công nhân, giai cấp nghèo, mà là giới công nhân, giới người nghèo.
Nguồn gốc loài người trái ngược với nhà nước cho thấy rằng, tính chất nước nhà không là quốc gia, không là nguồn gốc loài người; bản chất nhà nước cũng không là quốc gia, không là nguồn gốc loài người; thực chất nước là quốc gia, là nguồn gốc loài người. Điều đó có nghĩa, không có nhà nước, mà chỉ có quốc gia trong cộng đồng người.Theo đó, nước nhà không là nguồn gốc loài người, nhà nước cũng không là nguồn gốc loài người, còn nước quốc gia là nguồn gốc loài người. Nói cách khác, nhà nước là khái niệm không liêm chính, nước hay quốc gia là khái niệm liêm chính; nguồn gốc loài người gắn với đất nước – quốc gia; loài người không có quốc gia, hay không có đất nước thì thiếu nguồn gốc.
Nguồn gốc loài người trái ngược tư tưởng sai lầm cho thấy rằng, tư tưởng khuynh tả không phát triển, không hiểu nguồn gốc loài người; tư tưởng khuynh hữu chưa phát triển, chưa hiểu nguồn gốc loài người; tư tưởng không khuynh tả hữu phát triển, hiểu được nguồn gốc loài người. Điều đó có nghĩa, loài người có tư tưởng phát triển hiểu được nguồn gốc loài người; tư tưởng không phát triển không hiểu nguồn gốc loài người.Theo đó, loài người phát triển là tư tưởng đúng đắn; còn loài người tiến hóa là tư tưởng sai lầm; tư tưởng không phát triển là phụ thuộc kẻ mạnh. Nói cách khác, tư tưởng không phát triển là phụ thuộc nước lớn; tư tưởng chưa phát triển vẫn phụ thuộc nước lớn (the ideology of not being independent is still dependent on big countries); còn tư tưởng phát triển là không phụ thuộc ai (the idea of development is not dependent on anyone). Chẳng hạn, tư tưởng độc lập là đất nước phát triển, tư tưởng phụ thuộc là đất nước không phát triển; tư tưởng không văn hóa nước không phát triển, tư tưởng văn hóa là nước phát triển, hay tư tưởng chân thật là nước phát triển (or true ideology is a developed country).
Nguồn gốc loài người trái ngược chủ nghĩa tư bản, quốc gia cho thấy rằng, tư bản chủ nghĩa loài người không có nguồn gốc, chủ nghĩa tư bản loài người thiếu nguồn gốc, tư bản không chủ nghĩa loài người có nguồn gốc (capitalism does not have human origins); quốc gia chủ nghĩa loài người không có nguồn gốc, chủ nghĩa quốc gia loài người cũng không nguồn gốc, quốc gia không chủ nghĩa loài người có nguồn gốc (nations do not have human origins). Điều đó có nghĩa, tư bản, quốc gia không chủ nghĩa loài người có nguồn gốc. Chẳng hạn, tư bản phát triển là loài người có nguồn gốc; tư bản vì nhân dân loài người có nguồn gốc; tư bản Đạo pháp là loài người có nguồn gốc, tức tư bản có đạo đức – chứ không phải “chủ nghĩa tư bản có đạo đức” – thì loài người có nguồn gốc [6]; quốc gia phát triển là loài người có nguồn gốc (developed nations are human beings of origin); quốc gia văn hóa là loài người có nguồn gốc (cultural nation is human origin); còn quốc gia hùng cường, hay “hùng mạnh” thì không có nguồn gốc (or “mighty” has no origin).
Nguồn gốc loài người trái ngược chủ nghĩa thực dân, dân tộc cho thấy rằng, thực dân chủ nghĩa loài người không có nguồn gốc, chủ nghĩa thực dân loài người cũng không có nguồn gốc, thực dân không chủ nghĩa loài người có nguồn gốc; dân tộc chủ nghĩa loài người không có nguồn gốc, chủ nghĩa dân tộc loài người cũng không có nguồn gốc, dân tộc không chủ nghĩa loài người có nguồn gốc (nationalism does not have human origins). Điều đó có nghĩa, thực dân trung thực khai hóa văn minh, thực dân không chủ nghĩa là loài người phát triển; dân tộc trung thực văn hóa văn minh, dân tộc không chủ nghĩa là loài người phát triển (a nation without ideology is a developed human race). Nói cách khác, các dân tộc văn minh là loài người phát triển; người không phát triển khi dân tộc không văn minh (people do not develop when the nation is not civilized); người không phát triển khi có chủ nghĩa dân tộc (people do not develop when there is nationalism), chẳng hạn, như: chủ nghĩa dân tộc cực đoan, “chủ nghĩa phục quốc Do Thái” [7].
Nguồn gốc loài người trái ngược chủ nghĩa cộng đồng, xã hội cho thấy rằng, cộng đồng lệch lạc không là nguồn gốc loài người, lệch lạc cộng đồng chưa là nguồn gốc loài người, cộng đồng không lệch lạc là nguồn gốc loài người (non-deviant community is the origin of humanity); xã hội lệch lạc không là nguồn gốc loài người, lệch lạc xã hội chưa là nguồn gốc loài người, xã hội không lệch lạc là nguồn gốc loài người (non-deviant society is the origin of humanity). Tức là, cộng đồng, xã hội lệch lạc không là nguồn gốc loài người; cộng đồng, xã hội không lệch lạc là nguồn gốc loài người. Chẳng hạn, loài người có quy luật phát triển có nguồn gốc (humanity has its own laws of development); cộng đồng người thiếu trung thực thiếu nguồn gốc (the community of dishonest people lacks roots); xã hội loài người thiếu chân thật thiếu nguồn gốc (human society lacks authenticity and origins).
Nguồn gốc loài người trái ngược chủ nghĩa yêu nước, nhân đạo cho thấy rằng, yêu nước chủ nghĩa không là nguồn gốc loài người, chủ nghĩa yêu nước cũng không nguồn gốc loài người, yêu nước không chủ nghĩa thiếu nguồn gốc loài người (patriotism without ideology lacks human origin); nhân đạo chủ nghĩa không là nguồn gốc loài người, chủ nghĩa nhân đạo chưa là nguồn gốc loài người, nhân đạo không chủ nghĩa là nguồn gốc loài người (humanity without ideology is the origin of humanity). Điều đó có nghĩa, yêu nước không chủ nghĩa người vẫn thiếu cội nguồn (people who love their country without ideology still lack roots); hay loài người vẫn không có nguồn gốc (or humanity still has no origin). Chẳng hạn, người yêu nước vẫn thích chiến thắng trong chiến tranh (patriots still prefer victory in war); tức người thích thắng là không yêu người (that is, people who like to win do not love others), bởi vì thích thắng là vẫn có chiến tranh (because if you want to win, there will still be war); còn khi người yêu người là sẽ hết chiến tranh (when one person loves another, the war will end), bởi vì thích hòa sẽ không có chiến tranh (because if there is peace, there will be no war); người yêu người chính là nguồn gốc loài người. Nói cách khác, người yêu người là loài người hòa bình thật sự, loài người hết chiến tranh có cuộc sống hạnh phúc bình yên.
Nguồn gốc loài người trái ngược chủ nghĩa hiện thực, đa phương cho thấy rằng, hiện thực chủ nghĩa không là nguồn gốc loài người, chủ nghĩa hiện thực cũng không nguồn gốc loài người, hiện thực không chủ nghĩa là nguồn gốc loài người (non-theistic realism is the origin of humanity); đa phương chủ nghĩa không là nguồn gốc loài người, chủ nghĩa đa phương cũng không nguồn gốc loài người, đa phương không chủ nghĩa là nguồn gốc loài người. Điều đó có nghĩa, hiện thực, đa phương không chủ nghĩa loài người có cội nguồn. Chẳng hạn, ngoại giao đa phương không lệch lạc, hay ngoại giao chân thật là nguồn gốc loài người – loài người phát triển (or true diplomacy is the origin of humanity – humanity develops).
Nguồn gốc loài người trái ngược toàn cầu hóa cho thấy rằng, toàn cầu hóa không có nguồn gốc loài người, toàn cầu thiếu phát triển thiếu nguồn gốc loài người, toàn cầu phát triển là nguồn gốc loài người (global development is the origin of humanity). Điều đó có nghĩa, phát triển toàn cầu là loài người có nguồn gốc (global development is humanity’s origin); nguồn gốc loài người là phát triển toàn cầu, hay “toàn cầu phát triển” – khái niệm biểu hiện toàn cầu hài hòa về môi trường, công bằng bình đẳng công lý về cuộc sống loài người. Nói cách khác, cần xây dựng toàn cầu phát triển bền vững, chứ không thực hiện toàn cầu hóa không phát triển (rather than implementing globalization without development).
Nguồn gốc loài người trái ngược thuyết địa tâm, nhật tâm cho thấy rằng, nguồn gốc loài người không là thuyết địa tâm, cũng không là thuyết nhật tâm, mà là sự phát triển của sự sống (but the development of life). Điều đó có nghĩa, nguồn gốc loài người do sự sống phát triển (human origin is due to the development of life), tức là “đạo vũ trụ phát triển” – con đường vũ trụ phát triển của hệ mặt trời (cosmic path of development of the solar system). Theo đó, sự chưa sống chưa phát triển trong vũ trụ (the undeveloped life in the universe), sự không sống không phát triển ngoài vũ trụ (non-life does not develop in outer space), sự sống phát triển giữa trong ngoài vũ trụ (life develops in and out of space). Nói cách khác, thuyết về nhật tâm không đúng, không là nguồn gốc loài người; thuyết địa tâm cũng không đúng, không là nguồn cội loài người; còn con đường vũ trụ đúng đắn, hay đạo vũ trụ là nguồn gốc loài người; nguồn gốc loài người chính là con đường phát triển, con đường hạnh phúc đích thực của loài người (the true path of human happiness).
Khuyến nghị hiểu đúng đắn khái niệm, nguồn gốc, loài người, phát triển, văn minh, xây dựng xã hội loài người phát triển văn minh
Hiện nay cộng đồng trong các quốc gia chưa hiểu biết nguồn gốc loài người.Ngay cả khái niệm nguồn gốc, xã hội, loài người, phát triển, học thuật cũng chưa hiểu rõ sự thật. Chẳng hạn, khi phân tích khái niệm nguồn gốc, giới học thuật chỉ hiểu hình thức không thật không có nguồn gốc, nội dung chưa thật chưa có nguồn gốc, chứ không hiểu nguyên lý sự thật có nguồn gốc; khi phân tích khái niệm loài người, giới học thuật chỉ hiểu hình thức không thật không phải loài người, nội dung chưa thật chưa phải loài người, chứ không hiểu nguyên lý sự thật loài người; khi phân tích khái niệm phát triển, giới học thuật chỉ hiểu hình thức không thật không phát triển, nội dung chưa thật chưa phát triển, chứ không hiểu nguyên lý sự thật phát triển; còn khi phân tích khái niệm học thuật, giới học thuật chỉ hiểu tính chất tri thức không học thuật, bản chất tri thức chưa học thuật, chứ không hiểu thực chất tri thức học thuật, dạng mô hình: tri thức chưa học thuật – tri thức học thuật – tri thức không học thuật. Tức giới học thuật không hiểu rằng, sự thật nguồn gốc, xã hội loài người hay nguồn gốc loài người chỉ là khái niệm; không có loài người thì không có khái niệm; không có khái niệm là không có loài người; nguồn gốc loài người là khái niệm loài người; khái niệm loài người là nguồn gốc loài người (the concept of humanity is human origin). Nói cách khác, xã hội là khái niệm khái niệm xã hội (society is the concept social concept), loài người là khái niệm khái niệm loài người, nguồn gốc là khái niệm khái niệm nguồn gốc, học thuật là khái niệm khái niệm học thuật, nguồn gốc loài người là khái niệm – khái niệm nguồn gốc loài người, v.v… Do vậy bằng tư duy sự thật, người viết khảo luận này khuyến nghị như sau:
1) Hiểu đúng đắn khái niệm:
Hiện nay loài người chưa hiểu rõ khái niệm.Không hiểu khái niệm là không hiểu ngôn ngữ, không hiểu tri thức học thuật, không hiểu triết học, sự sống, nguồn gốc, loài người, nguồn gốc loài người. Do đó, điều trước tiên cần phải hiểu rõ khái niệm. Khái niệm gồm các mặt chủ yếu như sau: tính chất hình thức khái niệm không khoa học, không có liêm chính học thuật; bản chất nội dung khái niệm chưa khoa học, chưa có liêm chính học thuật; thực chất nguyên lý khái niệm khoa học, đã có liêm chính học thuật, dạng mô hình: sự thật khái niệm chưa liêm chính – sự thật khái niệm liêm chính – thật sự khái niệm không liêm chính. Điều đó có nghĩa, để hiểu đúng đắn khái niệm, giới học thuật cần phân biệt rõ các mặt sau: hình thức khái niệm sai sự thật (untrue conceptual form), bản chất khái niệm vẫn sai sự thật (the conceptual true remains untrue), thực chất khái niệm đúng sự thật (essentially the concept is true). Nói cách khác, hiểu đúng đắn khái niệm cần nhận rõ sự thật; không hiểu sự thật khái niệm là không hiểu đúng đắn khái niệm.
2) Hiểu đúng đắn nguồn gốc:
Thực tế cho thấy, loài người chưa hiểu rõ khái niệm nguồn gốc.Không hiểu nguồn gốc dẫn đến “chủ nghĩa” – khái niệm biểu hiện thiên lệch không phát triển; tức không hiểu nguồn gốc loài người phát triển, hay không hiểu tạo hóa phát triển. Do đó, cần phải hiểu thật rõ khái niệm nguồn gốc. Nguồn gốc gồm các mặt chủ yếu như sau: hình thức nguồn gốc không phát triển; nội dung nguồn gốc chưa phát triển; nguyên lý nguồn gốc phát triển, dạng mô hình: nội dung nguồn gốc chưa phát triển-nguyên lý nguồn gốc phát triển- hình thức nguồn gốc không phát triển. Điều đó có nghĩa, để hiểu đúng đắn nguồn gốc, giới học thuật cần phân biệt rõ các mặt sau: hình thức không nguồn gốc không phát triển (sai), nội dung chưa nguồn gốc chưa phát triển (chưa đúng), nguyên lý nguồn gốc phát triển (đúng). Nói cách khác, hiểu đúng đắn nguồn gốc cần nhận rõ đúng sai (correctly understanding the origin requires clearly recognizing right and wrong); không nhận rõ đúng sai nguồn gốc là không hiểu đúng đúng đắn nguồn gốc.
3) Hiểu đúng đắn loài người:
Thực tế cho thấy, loài người cũng chưa hiểu rõ loài người.Không hiểu loài người là không hiểu sự sống, không hiểu nguồn gốc sự sống loài người. Do đó, rất cần phải hiểu thật rõ loài người. Loài người gồm các mặt chủ yếu như sau: tính chất loài người không văn hóa phát triển, người không chân thật không phải giới người; bản chất loài người chưa văn hóa phát triển, người chưa chân thật chưa phải giới người; thực chất loài người văn hóa phát triển, người chân thật là giới người, dạng mô hình: bản chất loài người chưa văn hóa -thực chất loài người văn hóa -tính chất loài người không văn hoá. Điều đó có nghĩa, để hiểu đúng đắn loài người, giới học thuật cần phân biệt rõ các mặt sau: tính chất loài người không trung thực không văn hoá, không phải giới người mà là giới vật (trái); bản chất loài người chưa trung thực chưa văn hoá, chưa phải giới người (chưa phải); thực chất loài người trung thực văn hóa giới người (lẽ phải). Nói cách khác, hiểu đúng đắn loài người cần nhận rõ lẽ phải loài người; không rõ lẽ phải không hiểu loài người văn hóa (no understanding common sence and not understanding human culture), hay không phân biệt đâu là giới người giới vật (or not distinguishing between human and animal kingdoms).
4) Hiểu đúng đắn phát triển:
Phát triển chưa được loài người hiểu rõ.Không hiểu phát triển là không hiểu sự thật; không hiểu sự thật về nguồn gốc loài người. Do đó, cần phải hiểu đúng phát triển là gì. Phát triển gồm các mặt chủ yếu sau: tính chất không thật không phát triển; bản chất chưa thật chưa phát triển, thực chất sự thật phát triển, dạng mô hình: bản chất chưa có phát triển-thực chất phát triển -tính chất không có phát triển. Điều đó có nghĩa, tính chất bản chất không phát triển, còn thực chất phát triển – tức môi trường sống của loài người trên trái đất. Do vậy, để hiểu đúng đắn phát triển cần phân biệt rõ các mặt sau: bản chất chưa phát triển (chưa đúng chưa thật), tính chất không phát triển (không đúng không thật), thực chất phát triển (đúng sự thật). Nói cách khác, giới lãnh đạo nghiên cứu cần hiểu đúng sự thật phát triển; không hiểu đúng sự thật phát triển là không hiểu phát triển.
5) Hiểu đúng đắn văn minh:
Thực tế cho thấy rằng, loài người cũng chưa hiểu rõ văn minh.Không hiểu văn minh là không hiểu loài người, hay không hiểu nguồn gốc loài người văn minh. Do đó, rất cần phải hiểu rõ khái niệm văn minh. Văn minh gồm các mặt chủ yếu như sau: tính chất cá nhân không văn hóa phát triển, cá thể người không chân thật không văn minh; bản chất nhóm chưa văn hóa phát triển, tập thể người chưa chân thật chưa văn minh; thực chất cộng đồng văn hóa phát triển, xã hội loài người chân thật là văn minh, dạng mô hình: tập thể người chưa chân thật chưa văn minh -xã hội loài người chân thật văn minh -cá thể người không chân thật không văn minh. Điều đó có nghĩa, để hiểu đúng đắn văn minh, giới học thuật cần phân biệt rõ các mặt sau: tính chất cá nhân người không văn hóa không văn minh (sai trái); bản chất nhóm loài người chưa văn hóa chưa văn minh (chưa đúng chưa phải); thực chất loài người văn hóa văn minh (đúng lẽ phải). Nói cách khác, hiểu đúng đắn văn minh cần hiểu đúng lẽ phải; không hiểu đúng lẽ phải văn minh là không hiểu được sự văn minh.
6) Xây dựng xã hội loài người phát triển văn minh:
Thực tế cũng cho thấy rằng, hiện chưa có “xã hội loài người phát triển văn minh” – tức loài người chưa được bảo đảm hài hòa về môi trường, công bằng bình đẳng công lý về sự sống. Do đó, cần phải xây dựng xã hội loài người phát triển văn minh. Xã hội như vậy gồm các mặt sau: hình thức xã hội loài người không phát triển văn minh, loài người không chân thật không văn hóa; nội dung xã hội loài người chưa phát triển văn minh, loài người chưa chân thật chưa văn hóa; nguyên lý xã hội loài người phát triển văn minh (the principle of human society developing civilization), loài người chân thật văn hóa, dạng mô hình: xã hội loài người chưa phát triển văn minh – xã hội loài người phát triển văn minh – xã hội loài người không phát triển văn minh. Điều đó có nghĩa, để xây dựng xã hội loài người phát triển văn minh, giới học thuật cần phân biệt rõ các mặt sau: xã hội loài người chưa văn minh, loài người chưa chân thật chưa có văn hóa (chưa thật); xã hội loài người không văn minh, loài người không chân thật không có văn hóa (không thật); xã hội loài người văn minh, loài người chân thật có văn hóa (sự thật). Nói cách khác, xây dựng xã hội loài người phát triển, hay loài người văn minh cần tôn trọng sự thật, đồng thời xây dựng loài người văn hóa; loài người không tôn trọng sự thật văn hóa, không xây dựng được xã hội loài người phát triển văn minh.
Kết luận
Nguồn gốc loài người là loài người phát triển theo quy luật tự nhiên; môi trường sống không phát triển không có loài người. Hiện nay, nguồn gốc loài người chưa được loài người hiểu biết, giới học thuật chưa rõ thực chất khái niệm này. Đây là nguyên nhân làm cho loài người thiếu hiểu biết văn hóa và tri thức khoa học, hay thiếu hiểu biết nguồn gốc của chính mình, dẫn đến huỷ hoại môi trường sống, bạo lực xung đột và chiến tranh, gây khổ đau cho chính loài người, thậm chí loài người có thể diệt vong sau 200 năm. Do đó, để loài người phát triển bền vững, có cuộc sống hạnh phúc bình yên, giới học thuật cần hiểu đúng đắn khái niệm,nguồn gốc, loài người, phát triển, văn minh, xây dựng xã hội loài người phát triển văn minh.
……………….
1. https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2022-02/kinh-truyen-tin-20-02-tai-sao-lai-yeu-ke-thu.html
3. https://tiasang.com.vn/doi-moi-sang-tao/co-mot-toc-do-dac-trung-cua-tien-hoa-van-hoa/
4. https://vanhoavaphattrien.vn/giai-ma-bi-an-chu-so-tu-nhien-su-song-luat-phat-trien-a16619.html
5. https://diendankhaiphong.org/thoi-dai-khai-sang-thoi-diem-khoi-dau-va-cham-dut/
6. https://diendankhaiphong.org/chung-ta-can-chu-nghia-tu-ban-co-dao-duc/
7. https://diendankhaiphong.org/su-xuong-doc-nguy-hiem-ve-chien-luoc-cua-israel/
………………….
Nguyễn Hữu Đổng, ngày 07/11/2024
Xem thêm những bài biên khảo của Nguyễn Hữu Đổng
PGS TS Nguyễn Hữu Đổng (đã về hưu)


