Trang chủ » TIA SÁNG rọi vào quá khứ bị lãng quên

TIA SÁNG rọi vào quá khứ bị lãng quên

Tháng Tám 2018
H B T N S B C
« Th6    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  
Advertisements

Tác giả: WILHELM G SOLHEIM II, Giáo Sư Nhân Chủng Học Đại Học Hawaii
Biên dịch: Trần Ngọc Dụng

Trong thập niên qua (1960), cả thế giới đang hướng sự chý ý về vùng Đông Nam Á là vì cuộc chiến đang diễn ra tại đây. Những hoạt động quân sự ào ạt đã lấn át các khám phá mới đầy thú vị liên quan đến lịch sử và con người tiền sử từng sinh sống tại vùng này.

Tuy nhiên, về lâu về dài thì những khám phá này sẽ có ảnh hưởng sâu đậm hơn hẳn các hoạt động quân sự vừa nói, đặc biệt về khía cạnh khảo cổ học – theo cách chúng tôi nghĩ về vùng này và con người sống tại đó, cũng như về lối suy nghĩ của chính họ.

Thậm chí các khám phá này cũng ảnh hưởng đến vị thế của người phương Tây và vai trò của họ trong sự tiến hoá của văn hoá thế giới. Các chỉ dấu rõ ràng và hùng hồn đang trỗi dậy cho thấy những bước đầu tiên của nền văn minh nhân loại hẳn đã bắt nguồn từ vùng Đông Nam Á.

trong-dong-dong-son-nguon-goc

Hình 1: Trống đồng Đông Sơn

Người vùng nào biết trồng lúa và đúc đồng đầu tiên?

Các nhà sử học Châu Âu và Châu Mỹ thường đưa ra lý thuyết cho rằng nền văn minh đầu tiên xuất phát tại Vùng Khuyết Phì Nhiêu (Fertile Crescent) ở Cận Đông, hoặc trên vùng đồi hai bên sườn của vùng này. Đã từ lâu chúng ta cứ tin rằng, ngay tại đó loài người nguyên thuỷ đã phát triển nghề nông, biết làm đồ gốm và đồ đồng. Cả ngành khảo cổ học cũng cho rằng tin như vậy là đúng, một phần vì tại Vùng Khuyết này các nhà khảo cổ đã đào được vô số những di vật.

Tuy nhiên, nay các khám phá tại vùng Đông Nam Á (ĐNÁ) bắt chúng ta phải tái xét lối suy nghĩ và niềm tin cũ. Các di vật đào được và phân tích trong vòng năm năm qua cho thấy người ở vùng này đã biết trồng trọt, làm đồ gốm, đúc đồng và sử dụng đồ đồng sớm hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới.

Bằng chứng là những khai quật tại các địa điểm khảo cổ trong vùng đông bắc và tây bắc Thái Lan, cùng với các cuộc đào bới tại Đài Loan, miền Bắc và Nam Việt Nam, cũng như tại các vùng khác của Thái Lan, Mã Lai, và Phi Luật Tân, kể cả tại miền bắc Úc Đại Lợi.

do-dong-duc-khuon-doi

Hình 2: Đồ đồng được đúc bằng khuông đôi (Bắc Thái Lan)

Các vật dụng được tìm thấy và định tuổi niên đại qua Carbon 14 là những vết tích văn hoá của người sống trong vùng có tổ tiên đã biết trồng trọt và chế tạo đồ đồng và đồ gốm hàng ngàn năm trước các dân tộc ở các vùng khác như Cận Đông, Ấn Độ, hay Tàu.

Tại một địa điểm khảo cổ ở bắc Thái Lan, đồ đồng được đúc bằng khuôn đôi (hình 2) rất lâu trước năm 2300 trước công nguyên (tcn) – Chắc chắn các vật này xuất hiện sớm hơn các vật dụng tìm thấy tại Ấn Độ hay Tàu, và cũng có thể sớm hơn những món đồ đồng đầu tiên tìm thấy tại vùng Cận Đông; nơi mà cho đến bây giờ các chuyên gia vẫn còn tin rằng nghề kim loại đồng khởi phát từ đó.

Có người có thể đặt câu hỏi: Nếu vai trò của vùng ĐNÁ quan trọng như vậy, tại sao đến mãi hôm nay người ta mới biết?

Có nhiều cách giải thích, nhưng lý do đơn giản nhất là trước 1950 rất ít nghiên cứu về khảo cổ về vùng này. Thậm chí đến hôm nay, việc nghiên mới vừa bắt đầu. Các viên chức trong chính quyền thực dân không hề đặt nặng việc nghiên cứu về thời kỳ tiền sử của vùng này, và có vài người làm nghiên cứu thì chuyên môn họ không cao. Trước thập kỷ 1950, không có một báo cáo nào chính thức được chấp nhận dựa theo tiêu chuẩn hiện hành.

Thứ đến, những gì tìm thấy do khám phá đều được diễn dịch rằng đó là cái ngọn của dòng chảy văn hoá hướng về đông hay nam. Nền văn minh, theo họ, bắt nguồn từ vùng Cận Đông, phát triển mạnh mẽ tại Mesopotamia và Ai-cập, sau đó đến Hy-lạp và rồi La-mã. Giòng chảy này lan đến Ấn-độ rồi Tàu. Vùng Đông Nam Á, tính từ điểm xuất phát, là ngọn của dòng chảy đó.

Người Châu Âu tìm thấy các nền văn minh tiên tiến phát xuất tại Ấn-độ và Tàu. Khi họ thấy lối kiến trúc và nếp sống trưởng giả tại các nước này tương tự như những gì tìm thấy tại vùng ĐNÁ thì họ lại cho rằng vùng ĐNÁ chịu ảnh hưởng của Ấn và Tàu. Thậm chí họ đặt tên cho vùng ĐNÁ là Ấn-Tàu – phản ảnh rõ nét về quan niệm đó.

Dân di cư và “Các Đợt Sóng Văn Hoá”

Với mục đích nghiên cứu về thời tiền sử, việc khảo cứu vùng Đông Nam Á cần sự mở rộng tầm nhìn đến các nền văn hoá khác. Tôi sử dụng cách nói, Thời Tiền Sử Vùng Đông Nam Á, là có ý nhắc đến hai phần. Phần đầu là “toàn vùng Đông Nam Á” chạy dài từ dãy núi Ch’in Ling, phía bắc sông Yangtze bên Tàu, sang đến Tân-gia-ba, và cả vùng biến Nam Hải, sang phía tây đến Burna (Mymmar/Miến Điện) đến tận Assam. Phần hai là “Ốc đảo Đông Nam Á” bao gồm quần đảo Andaman, nam Burma, vòng qua Taiwan, kể cả Indonesia (Nam Dương) và Philippines (Phi-luật-tân) (Vui lòng xem phụ bản về Á Châu và Các Dân Tộc trong toàn vùng ĐNÁ đính kèm theo bài này)

Năm 1932, Robert Heine-Geldern, nhà nghiên cứu nhân chủng học người Áo cho xuất bản tập đề cương về thời tiền sử Vùng Đông Nam Á. Trong đó ông đưa ra một loạt các “đợt sóng văn hoá” –tức là những đợt di dân – của các dân tộc chính đang sinh sống hiện nay tại vùng Đông Nam Á.

Theo ông, đợt di dân quan trọng nhất là những người biết chế dụng cụ bằng đá hình chữ nhật, gọi là “rìu” – từ vùng bắc nước Tàu xuống ĐNÁ, và sau đó tản mát đến bán đảo Mã Lai, vùng Sumatra và Java, rồi Borneo, Phi Luật Tân, Đại Loan, và Nhật.

Về sau, Heine-Geldern bắt gặp đồ đồng khai quật ở ĐNA, lại cho rằng nguồn gốc của Thời Đồ Đồng ở ĐNÁ là từ miền Đông Âu du nhập sang khoảng 1000 năm trước công nguyên. Ông cho rằng những người này di dân theo hướng tiến sang đông và đi xuống nam, vào nước Tàu trong thời Tây Chu (1122-771 tcn). Họ mang theo kiến thức về đồ đồng lẫn hình thái nghệ thuật mới. Nhờ đó họ mới biết trang hoàng trên đồ đồng những hình kỷ hà, hình xoắn ốc, tam giác, và hình chữ nhật cùng các bức hình về người và thú.

trong-dong-dong-son

Hình 3: Trống đồng Đông Sơn

 

nghe-thuat-do-dong-dong-son

Hình 4: Tác phẩm nghệ thuật làm bằng đồng ở Đông sơn

Khi áp dụng vào trường hợp ở ĐNÁ, cả Heine-Geldern lẫn Bernhard Karlgren, một học giả người Thuỵ Sĩ đều gọi đây là văn hoá Đông Sơn; cách đặt tên này dựa theo một địa điểm tại Bắc Việt Nam có tên là Đông Sơn, nằm về phía nam của Hà Nội, nơi có các trống đồng thật lớn (hình 3) và các di tích nghệ thuật khác (hình 4) được tìm thấy do khai quật. Hai vị này cho rằng người Đông Sơn đã mang kỹ thuật đúc đồng và nghệ thuật hình kỷ hà vào vùng ĐNÁ (hình 1).

Các nhà nghiên cứu về tiền sử phần lớn đi theo lối tái tạo lịch sử kiểu truyền thống, dầu vậy có nhiều sự kiện không khớp nhau. Một số nhà thực vật học nghiên cứu về nguồn gốc của các cây trồng thì cho rằng vùng ĐNÁ, chẳng hạn, từng là trung tâm điểm của các loại cây trồng từ rất sớm.

Năm 1952 Carl Sauer, nhà nghiên cứu về địa lý, đi một bước xa hơn. Ông đặt giả thuyết rằng những loại cây trồng đầu tiên trên thế giới xuất hiện tại vùng ĐNÁ. Ông nghĩ rằng việc trồng cây do các người sinh sống tại chỗ thực hiện rất sớm, trước cả thời kỳ Đông Sơn. Đó là người Hoà Bình. Lúc ấy các nhà khảo cổ đều không để tâm đến lý thuyết của Sauer.

Đê Điều thêm vào yếu tố Khẩn cấp

Sự hiện hữu của văn hoá Hoà Bình được đề cập đến vào thập kỷ 1920 là do nhà thực vật học người Pháp, bà Madeleine Colani, sau trở thành nhà cổ sinh vật học và khảo cổ học. Bà dựa trên các di vật được đào lên tại nhiều hang động và các địa điểm nhà đá tại Bắc Việt Nam, và nơi gần nhất là làng Hoà Bình.

Các di vật nghệ thuật tiêu biểu tìm thấy tại các địa điểm này gồm có những vật dùng bằng đá phiến hình bầu dục, tròn và hình tam giác thô sơ được gọt phẳng một bên, còn mặt kia thì giữ nguyên hình dáng. Trong hầu hết các địa điểm khai quật, có nhiều vật bằng đá mài cùng với các món bằng đá phiến như vậy. Ở tầng khai quật cao hơn, thường là đồ gốm và một vài dụng cụ bằng đá trông hơi khác, công phu với cạnh bén. Xương súc vật và khá lớn vỏ sò cũng được tìm thấy tại các nơi ấy.

Các nhà khảo cổ nghĩ rằng chỉ là một sự ngẫu nhiên mà các món đồ gốm kể trên được tìm thấy cạnh các dụng cụ ở Hoà Bình. Họ cho rằng đồ gốm đã được các người sống gần khu vực có trình độ văn minh hơn chế tạo. Có thể họ là các nhà nông di cư từ miền bắc xuống. Các nhà khảo cổ còn nghĩ rằng cạnh đá mài của các dụng cụ bằng đá cũng là do học hỏi từ những người ở ngoài. Vậy mà không có nơi nào ở vùng phía bắc có những thứ dụng cụ này.

Năm 1963 tôi tổ chức một cuộc thám hiểm liên hợp của Khoa Mỹ Thuật tại Thái Lan và Đại Học Hawaii để thực hiện cuộc khảo cứu cổ vật tại các vùng sẽ bị lụt do phong trào xây đập mới trên sông Mê-kông và các phụ lưu. Điểm xuất phát là vùng bắc Thái Lan, nơi các đập đầu tiên được xây.

Không có cuộc nghiên cứu có hệ thống nào được thực hiện trước đó để tìm hiểu về thời tiền sử của vùng này. Tôi thấy rất cần phải gấp rút đào xới trước khi cả vùng này chìm ngập trong nước.

Những ngạc nhiên về một gò đồi tầm thường

Suốt trong mùa đầu làm việc ngoài trời, chúng tôi định ra hơn hai mươi địa điểm; trong mùa thứ hai, chúng tôi đào một số các địa điểm đó và thử nghiệm vài địa điểm khác. Trong hai năm 1965 và 66, chúng tôi đào tại các điểm trong vùng Non Nok Tha. Khi thử carbon 14 để định niên đại thì có vài trục trặc, nhưng cũng cho thấy khu vực này có người ở (tuy không liên tục) khoảng trên 3500 năm trước công nguyên.

Non Nok Tha là gò đồi rộng chừng 6 mẫu Anh cao hơn khu vực đồng ruộng chung quanh chừng 6 bộ (feet). Khi thực hiện việc này, chúng tôi ngụ tại một làng nhỏ Thai-Lao của Ban Na Di, cách gò đồi này vài trăm mét.

Ở đó khoảng bốn tháng, chúng tôi đào hố đầu tiên. Hamilton Parker, của Đại Học Otago tại Tân Tây Lan, phụ trách năm đầu. Donn Bayard, sinh viên chương trình tiến sĩ về khoa hầm mỏ, trở lại Non Nok Tha vào năm 1968 để thực hiện hố thứ hai cho luận án tiến sĩ của anh. Từ đó Otago và Đại Học Hawaii tiếp tục hỗ trợ công việc của chúng tôi tại Thái Lan trong khuôn khổ của Khoa Mỹ Thuật Thái.

Bấy giờ là năm thứ bảy, kết quả của các cuộc khai quật này rất thú vị, khi từ từ các khám phá từ lều mang số 01714 được phân tích trong phòng thí nghiệm tại Honolulu. Khi nhận ra các niên đại do carbon 14 tiết lộ, chúng tôi biết ngay là địa điểm này sẽ tạo sự thay đổi có tính chất cách mạng.

Trong một mảnh vỡ chưa đầy một xích vuông của cái bình gốm, chúng tôi tìm thấy dấu vết cái vỏ lúa, giống Oryza sativa. Theo cách định tuổi carbon áp trên một tầng khai quật trên mảnh vỡ này, chúng tôi biết ngay – loại lúa này đã có trên 3500 trước công nguyên. Như vậy là loại lúa này đã có trước hơn một ngàn năm thứ lúa tìm thấy tại Ấn-độ và Tàu – nơi mà các nhà khảo cổ đinh ninh là lúa được trồng lần đầu tiên tại đó.

Cũng theo cách định bằng carbon liên quan đến than củi, chúng tôi biết rằng các rìu bằng đồng- đúc bằng hai khuôn sa thạch- đã được chế tạo tại Non Nok Tha khoảng trên 2300 năm trước công nguyên, hoặc có lẽ trên 3000 năm trước công nguyên. Như vậy là trước cả các đồ đồng đầu tiên đúc tại Ấn Độ đến 500 năm, và trước những thứ tìm thấy ở Tàu cả 1000 năm. Những món này còn lâu đời hơn những đồ đồng khai quật tại Cận Đông, là nơi nhiều người cho rằng văn minh đồ đồng bắt nguồn từ đó.

Các khuôn hình chữ nhật chúng tôi tìm thấy tại Non Nok Tha thường có từng cặp (trang 334) cho thấy là chúng được đặt theo từng đôi ngay tại chỗ đã đào thấy chứ không phải do thất lạc hay bị bể và bị vất bỏ. Quan sát các nồi luyện kim còn nguyên hay đã bị vỡ đào được và nhiều quai bằng đồng nằm rải rác chung quanh, chúng tôi không nghi ngờ gì về việc chúng tôi đã khám phá được cả một thời kỳ đúc đồng – hay đúng hơn, là xưởng chế rìu cổ đại.

Các phần thân súc vật vùi lấp chung với những chỗ chôn cất trước đây tại Non Nok Tha. Các phần thân này được tạm cho là các con vật tương tự như bò zebu (Bos indicus). Loài này được xem là thú nuôi đầu tiên tại vùng Đông Á.

Chester German, một sinh viên của tôi tại Đại Học Hawaii, là người đã chọn Non Nok Tha là nơi khai quật sau khi tìm thấy các mảnh vụn đồ đồng han rỉ trong khu gò đồi. Năm 1965, ông trở lại Thái Lan để hoàn tất công trình tiến sĩ. Ông muốn thí nghiệm ý tưởng của Carl Sauer và những người khác về các cây được tin là do người Hoà Bình trồng. Xa hơn về phía bắc Thái Lan, ông tìm thấy Hang Tinh Thần – và đó chính là thứ ông đang tìm kiếm.

Hang Tử Thần cung cấp những mốc thời gian đáng kinh ngạc

Hang Tinh Thần toạ lạc trên một sườn đá vôi nhô ra, nhìn xuống con suối chạy vào sông Salween của Miến Điện (xem bản đồ phụ đính). Hang này còn rõ dấu vết của một lăng tẩm– có lẽ vậy nên hang có tên đó.

dung-cu-bang-da

Hình 5: Dụng cụ bằng đá

Khi đào cái nền trong hang, German tìm ra các di tích của cây hoá thạch, có lẽ là hai trái đậu và cả hột đậu, cây năng ngọt, ớt, mấy mảnh vỏ trái bầu và dưa leo, tất cả đều liên quan đến các dụng cụ bằng đá của người Hoà Bình. (hình 5).

Những mẩu xương thú còn sót lại cho thấy đã bị chặt nhỏ nhưng không phải đã nướng hay quay trên lửa mà là hầm, có thể trong các ống tre – một hình thức nấu ăn mà dân vùng ĐNÁ vẫn còn dùng.

Một loạt các ngày tháng tính theo carbon 14 cho thấy những vật này xuất hiện trên 6000 năm trước công nguyên và lùi xa đến 9700 năm và ở dưới các lớp sâu hơn, còn có những vật có tuổi lâu hơn vậy, chưa được định tuổi. Khoảng 6600 năm trước công nguyên, nhiều yếu tố mới đã vào vùng này. Đó là các loại đồ gốm cao cấp, bóng loáng, chạm trổ, và có đường vân dây thừng; các dụng cụ bằng đá hình chữ nhật đánh bóng từng phần; những con dao bằng đá phiến. Công cuộc tìm kiếm các dụng cụ cùng các di vật cây cối của vùng Hoà Bình vẫn được tiếp tục cùng với các vật dụng tìm thấy gần đây.

Chúng tôi xem những khám phá tại Hang Tinh Thần ít ra cũng là sự kết nối tiên khởi với giả thuyết của Sauer đưa ra, và các cuộc thám hiểm khác đang thêm những bằng chứng về nền văn hoá Hoà Bình phức tạp và rộng lớn này. Năm 1969, U Aung Thaw, Giám đốc viện Thăm Dò Khảo Cổ Miến Điện có cuộc đào xới các hang động tại Padahlin phía đông Miến Điện để tìm hiểu về văn hoá Hoà Bình, đã tìm thấy nhiều hình vẽ khắc trên vách đá cùng với nhiều vật dụng khác. Đây là điểm khảo sát văn hoá Hoà Bình xa nhất về phía tây được công bố.

Các cuộc đào tìm tại Đài Loan của một nhóm nhà thám hiểm của trường Đại Học Quốc Gia Đài Loan kết hợp với Đại Học Yale do Giáo sư Kwangchih Chang của ĐH Yale dẫn đầu, cho thấy một nền văn hoá với các đồ gốm có chạm trổ và in vân dây thừng, dụng cụ bằng đá mài nhẵn và những cái giùi bằng đá phiến có tuổi thọ trên 2500 trước công nguyên.

Các Nghi vấn bắt đầu được giải toả

Dựa theo các khám phá mới và tuổi niên đại định được mà tôi đã tóm tắt ở đây, cùng với những lần khác tôi chưa tổng kết, nhưng cũng quan trọng như thế; điều tôi muốn nói ở đây, là nên suy nghĩ kỹ về thời tiền sử tại ĐNÁ một ngày nào đó sẽ được tái tạo. Trong một số bài viết đã xuất bản, tôi đã khởi sự tiến hành công việc tái tạo ấy. Hầu hết ý kiến của tôi nên được xem đơn thuần là giả thuyết hay phỏng đoán. Cần phải có nhiều cuộc nghiên cứu hay thảo luận hơn nữa trong tương lai để có câu trả lời. Trong số đó có:

  • Tôi đồng ý với Sauer rằng những loại cây được trồng đầu tiên trên thế giới là do người Hoà Bình thực hiện, đâu đó tại vùng ĐNÁ. Tôi không lấy làm ngạc nhiên khi cho rằng việc trồng trọt khởi đầu khoảng 15000 năm trước công nguyên.
  • Tôi cho rằng các dụng cụ bằng đá có cạnh tròn được tìm thấy tại vùng bắc Úc-đại-lợi với carbon 14 đo được cho số tuổi là 20 ngàn năm trước công nguyên có nguồn gốc từ Hoà Bình.
  • Trong khi các đồ gốm có số tuổi khoảng 10 ngàn trước công nguyên được cho là của Nhật thì theo tôi, với hy vọng khi có nhiều khám phá mới hơn về văn hoá Hoà Bình, chúng ta có thể kết luận rằng những đồ gốm có vân dây và quai này do những người Hoà bình này chế ra trước đó nữa, tức là trên 10 ngàn năm trước công nguyên.
  • * Sự tái tạo về thời tiền sử của ĐNÁ vốn cho rằng các kiến thức về kỹ thuật quan trọng là do sự du nhập từ miền bắc xuống vùng ĐNÁ. Thay vào đó, tôi nghĩ rằng thời kỳ văn minh đồ đá đầu tiên của miền bắc nước Tàu, thường được gọi là Yangshao, xuất phát từ văn hoá Hoà Bình trước đó mà có. Đó là một nhánh của văn hoá Hoà Bình di chuyển từ vùng bắc ĐNÁ lên mạn bắc trong khoảng thiên niên kỷ thứ sáu hay thứ bảy trước công nguyên.
  • Tôi cho rằng nền văn hoá Lungshan sau đó, vốn được cho là thành hình từ Yangshao rồi lẽ ra lan về hướng đông và đông nam; thay vì vậy nó phát triển xuống phía nam của Tàu và ngược lên phía bắc. Cả hai chi văn hoá này đều có nguồn gốc của văn hoá Hoà Bình.
  • Khoản thiên niên kỷ thứ năm trước công nguyên, thuyền độc mộc có thể đã được dùng để di chuyển trên sông lạch trong vùng ĐNÁ. Có lẽ không lâu trong thiên niên kỷ thứ bốn trước công nguyên, loại thuyền có càng được người ở vùng ĐNÁ chế ra để để giữ thăng bằng khi ra biển. Tôi tin việc ra khơi bắt đầu trong khoảng 4 ngàn năm trước công nguyên đưa đến sự tình cờ đặt chân đến Đài Loan và Nhật Bản. Từ đó việc trồng cây đậu tằm, và có thể các loại cây khác, được phổ biến sang Nhật.
  • Trong khoảng thiên niên kỷ thứ ba trước công nguyên, dân chúng chuyên nghề đi thuyền ở ĐNÁ đến quần đảo Nam Dương và Phi Luật Tân. Họ mang theo nghệ thuật hình kỷ hà – xoắn ốc, tam giác, hình chữ nhật liền nhau theo từng giải như đã thấy trong các bình đồ gốm, đồ khắc gỗ, hình xâm, vải bằng vỏ cây, và sau này là vải dệt. Những thứ này đều có cùng mẫu hình kỷ hà tìm thấy trên các đồ đồng Đông Sơn và cứ bị tưởng là của vùng Đông Âu du nhập sang. Người vùng Đông Nam Á cũng thiên di về hướng tây, đến Madagascar khoảng 2000 năm trước. Dường như họ góp phần vào việc trồng trọt nhiều loại cây quan trọng và đóng góp cho việc phát triển kinh tế cho vùng đông Châu Phi.
  • Trong cùng thời gian, sự tiếp xúc giữa Việt Nam và vùng Địa Trung Hải bắt đầu, có thể bằng đường biển, do nhu cầu phát triển kinh tế. Nhiều vật dụng bằng đồng có hình dáng bất thường, mà ai cũng cho rằng xuất phát từ vùng Địa Trung Hải, cũng được tìm thấy tại khu vực Đông Sơn.

Quá khứ có thể giúp soi sáng hiện tại

Sự tái tạo mới nhất về thời tiền sử của vùng Đông Nam Á mà tôi trình bày ở đây dựa trên các dữ liệu thu thập được từ rất ít vùng khảo cổ cùng với cách diễn dịch lại từ những dữ liệu đã sẵn có. Cần thêm những cuộc khai quật sâu rộng và kiểm chứng về niên đại chính xác mới có thể thấy toàn cảnh những gì đã thực sự xảy ra, xem có khác với giả thuyết Heine-Geldern đã tái tạo hay không. Thời tiền sử của vùng Miến Điện và Assam rõ ràng không được biết, do vậy, tôi nghi hai vùng này có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu về thời tiền sử của vùng Đông Nam Á.

Điều cần thiết nhất hiện nay là cần thêm nhiều chi tiết về những khu vực nhỏ, dễ tìm hiểu. Bằng sự nghiên cứu ráo riết một khu vực nhỏ, chúng ta có thể nắm được sự phát triển văn hoá địa phương và sự thích ứng về môi trường để hiểu rõ cách con người hội nhập vào cuộc sống trong bối cảnh thời tiền sử. Sau cùng, chúng ta cần hiểu sắc dân trong vùng, và từ đó, những gì thu thập được có thể giúp chúng ta có cái nhìn thông suốt về mối giao tiếp giữa họ với nhau và với thế giới đang trong tình trạng luôn luôn thay đổi tại Đông Nam Á.

Tác giả: WILHELM G SOLHEIM II, Giáo Sư Nhân Chủng Học Đại Học Hawaii, đăng lần đầu tiên trên tạp chí National Geographic, Vol. 139, No. 3, tháng 3 năm 1971
Biên dịch: Trần Ngọc Dụng, đăng phần 1 trên http://damau.org/archives/48987 và phần 2: http://damau.org/archives/49017

Advertisements
%d bloggers like this: