Trang chủ » KÝ SỰ – VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG (3)

KÝ SỰ – VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG (3)

Tháng Một 2026
H B T N S B C
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Tìm chuyên mục

Thư viện

SAO ANH KHÔNG VỀ THĂM THÔN VỸ…
Tôn Thất Thông & Hoàng Lan Anh

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà? (Hàn Mặc Tử)

Chúng tôi rời Đà Nẵng để lên tàu ra Huế trong một buổi trưa dịu mát, “trời không nắng trời không mưa, chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ thương”. Tâm hồn tôi lúc ấy cũng dịu dàng trong cảm giác trông chờ được trở về thăm chốn cũ và gặp lại gia đình người em gái. Chúng tôi không chọn cách đi bằng đường đèo như trước đây, để có thể “vén mây giữa trời” và cảm nhận nét huyền ảo của Hải Vân, một bên là vực sâu biển rộng và bên kia là mây trời vắt ngang sườn núi, hoặc như một thi sĩ nào đó nói về ngọn núi Hải Vân: “chóp vướng mây trời, chân dầm nước biển“. Lần này, chúng tôi không chọn đường đèo Hải Vân, mà mua vé tàu di sản để có một trải nghiệm mới. Đã nghe nhiều, đọc nhiều trước khi về Việt Nam, chúng tôi cũng muốn xem ý nghĩa nào trong hai từ “di sản” trên chuyến tàu này. Và quả thực, chúng tôi không thất vọng.

Toa tàu tuy đã cũ, nhưng được tân trang khá tươm tất, chỗ ngồi rộng rãi, du khách có thể thoải mái thưởng thức chuyến đi hơn ba tiếng đồng hồ với tốc độ trung bình 50 cây số giờ. Hành khách có thể thoải mái đọc sách, hoặc lim dim ngủ, hoặc giản dị ngắm rừng ngắm biển bên cửa sổ và thả hồn vào thơ. Dù trời hôm đó hơi âm u, nhưng chúng tôi vẫn cảm nhận được nét huyền ảo của thiên nhiên, bên trái là núi cao, bên phải là vực sâu dựng đứng, và dưới cùng là biển rộng kéo tầm mắt xa tít đến tận chân trời. Một vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên làm quà tặng cho khách lãng du.

Chúng tôi lửng thửng đi dọc con tàu, và thẫn thờ ngạc nhiên bắt gặp một toa tàu được trang hoàng lộng lẫy, nơi làm sân khấu cho một ban nhạc sống, với các nghệ sĩ khoác y phục cổ truyền, với nhạc cụ cung đình, đang trình diễn những bài dân ca miền Trung, và những bài Nam Bình, Nam Ai mang đậm chất Ca Huế.

Chúng tôi ngồi dựa lưng ở toa tàu bên trái, mắt lim dim mơ màng nhìn sóng biển qua cửa sổ, và thưởng thức những bài Ca Huế đậm đà hương vị dân tộc. Nhóm nghệ sĩ này xem ra có kỹ năng rất cao về âm nhạc cổ truyền, sử dụng điêu luyện nhiều nhạc cụ khác nhau tùy theo âm điệu bài ca. Khi hát Lưu Thủy, Kim Tiền tươi vui thì đệm với đàn tranh; lúc ngân nga điệu Nam Bình, Nam Ai buồn man mác thì hát cùng với đàn bầu, đàn gáo; hoặc đôi lúc hò dân gian Mái Nhì, Mái Đẩy mang âm hưởng nhẹ nhàng nội tâm thì nhiều nhạc cụ cùng hòa âm với cách phối khí khác nhau tùy theo câu hát. Đôi lúc chuyển qua tân nhạc để đổi không khí, thì tiếng kèn Saxophone buồn man mác cất lên, đệm theo một bài tình ca về Huế: “Đã bao lâu rồi không về miền Trung thăm người em”. Hóa ra, chuyến tàu mang tên tàu di sản chính là đây. Nhóm nghệ sĩ trẻ đang biểu diễn nhạc cổ truyền này chính là linh hồn của tàu di sản.

Chúng tôi thầm khen công ty đường sắt, những người có sáng kiến tổ chức tàu di sản độc đáo, hấp dẫn du khách, nhất là du khách ngoại quốc khao khát tìm “món ngon của lạ”. Nó không chỉ là trang trí nội thất các toa tàu, mà họ sử dụng một chuyến đi không dài không ngắn, trên một cung đường có thể tạo nên cảm giác đơn điệu cho hành khách, họ tạo nên một không gian đặc biệt để giới thiệu một di sản văn hóa đặc sắc của miền Trung, đó là nhã nhạc cung đình, Ca Huế và các điệu hò dân gian vốn đã được “bác học hóa” để làm giàu thêm cho kho tàng Ca Huế, những di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận. Nhưng chúng tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi, với lượng khách ít ỏi của chuyến tàu, không biết công ty đường sắt có thể trả tiền tương xứng cho ban nhạc cổ truyền này hay không? Những nghệ sĩ này, với trình độ nghệ thuật rất điêu luyện, xứng đáng để hưởng một chế độ thu nhập hào phóng, để có thể chuyên tâm trau dồi nghệ thuật, phục vụ một vai trò cao cả là bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa đáng ngưỡng mộ. Mong lắm thay!

Khi tàu qua khỏi Phú Bài và bắt đầu đi vào địa phận Huế, tôi chợt nhớ mang máng hai câu thơ của Thu Bồn:

Xin chào Huế một lần anh đến,
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ.

Chắc hẳn Thu Bồn không cường điệu chút nào. Huế là kinh đô triều Nguyễn, nơi suốt bốn mùa, tao nhân mặc khách đến để thi thố tài năng về cầm kỳ thi họa. Gần đây hơn, nhiều nhạc sĩ tài danh đã để lại những bài ca vượt thời gian như Đêm Tàn Bến Ngự, Ai Về Sông Tương…  Không ít người đã ngẩn ngơ trước vẻ đẹp dịu dàng của tà áo tím, nón bài thơ e ấp, tóc thề ngang vai của con gái Huế. Chẳng thế mà nhạc sĩ Hoàng Nguyên, chỉ vì “một chiều lang thang bên dòng Hương Giang, tôi gặp một tà áo tím…” mà đã để lòng thổn thức, dừng bước giang hồ để viết nên bài tình ca Tà Áo Tím bất hủ, bài tình ca hay nhất của Hoàng Nguyên, và cũng là một trong những bài tình ca thượng đẳng của lâu đài nhạc tình Việt Nam trong thế kỷ 20. (Xin mời nghe Tà Áo Tím với ca sĩ Vân Khánh ở đây)

Con đường từ Phú Bài về Huế đầy ắp nhà cửa hai bên đường. Những thửa ruộng trước đây còn là vùng “đất cày lên sỏi đá”, bây giờ đã được thay bằng hàng quán, văn phòng, nhà thuốc tây, biểu tượng của nếp sống trung lưu. Vùng đất Hương Thủy này đã giàu lên thấy rõ, nhưng tôi vẫn thấy chạnh lòng khi nhìn thấy khá nhiều chòi tranh vách đất nằm xen kẽ với những căn nhà gạch ngói khang trang. Ở đâu cũng thấy nhiều phận đời đen bạc, chưa vươn lên tới mức sống tối thiểu cần thiết để ngẩng mặt nhìn trời. Bao giờ mới được thấy “quê miền Trung thôi kiếp điêu tàn“? Suốt thời gian du học, với ảnh hưởng của bạn bè sinh viên phản chiến Đức, tôi vẫn luôn mơ ước một xã hội bình đẳng, không có ai phải sống cuộc đời lầm than dưới đáy xã hội. Giờ đây, chiến tranh đã chấm dứt 50 năm rồi, có mấy triệu người đã ngã xuống vì giấc mơ đẹp đẽ như thế. Nhưng xem ra giấc mơ xã hội ấy khó trở thành hiện thực nữa rồi. Mấy ai quan tâm đến nó nữa? Trong lúc vẫn còn quá nhiều phận đời phải bươn chải để sinh tồn với thu nhập chưa tới 100$ mỗi tháng!

Tàu đi vào ga An Cựu, rồi chạy dọc nhánh sông con, để cuối cùng đỗ lại ở Ga Huế lúc trời vừa nhá nhem tối. Vẫn nhà ga nhỏ hẹp đó, vẫn màu vôi tường đỏ quạch đó, sau cả 50 năm vẫn không hề thay đổi. Có vẻ như giao thông đường sắt không được ưa chuộng ở Việt Nam thì phải. Đón chúng tôi ở sân ga là gia đình em gái. Tôi ôm cả gia đình vào vòng tay, mừng mừng tủi tủi, không nói nên lời. Dường như tóc em đã mọc nhiều sợi bạc, và tay em đã hơi run. Mà cũng phải, trên 70 tuổi rồi chứ còn trẻ trung gì nữa, nhưng chúng tôi mừng là mọi người vẫn còn tráng kiện, tinh thần minh mẫn, lại thêm có cô gái út được chuyển công việc ra Huế. Thật mùng cho cả gia đình, ba mẹ con em, cả gia đình có thể sum họp quây quần với nhau, mỗi ngày thấy mặt nhau, ăn chung nhau ba bữa cơm, thế đã là hạnh phúc hơn nhiều người khác lắm rồi, khi gia đình sống phân tán khắp nơi.

Chúng tôi dành trọn buổi tối hôm đó và ngày hôm sau để ở nhà thư giãn, chuyện trò với gia đình em gái. Đôi khi hạnh phúc chỉ giản đơn là nhìn thấy nhau, nghe giọng nói quen thuộc của nhau, chia nhau uống một bình trà sen, và nói với nhau những chuyện không đầu không đũa. Tôi ra vườn rau phía sau để xem công trình trồng trọt của chú em rể, nhưng bây giờ nó trống trơn, dấu hiệu của các trận lụt tiếp nhau quét qua thành phố Huế. “Trời hành cơn lụt mỗi năm”, câu hát của Phạm Đình Chương sao mà đúng đến nao lòng. Mà năm này, không chỉ là một mà bốn trận lụt kế tiếp nhau trong vòng mấy tuần, dọn lũ lụt này chưa xong thì trận lũ kế tiếp đã ập tới. Tội nghiệp Huế. Tội nghiệp em tôi.

Chúng tôi dự tính ở Huế vài ngày, thăm lại trường xưa, thăm bạn bè ngày còn trẻ. Nhân tiện lần này vì vợ chồng chúng tôi đi chung lần đầu về Huế, cho nên chương trình chính vẫn là thăm Hoàng Thành, thăm đền đài lăng tẩm, nơi đã ghi đậm dấu ấn của những ngày thiếu niên êm đềm của tôi hơn nửa thế kỷ trước. Tôi về đây với tấm lòng hoài niệm bâng khuâng như Bà Huyện Thanh Quan khi về thăm Thăng Long: “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Chương trình du ngoạn thì đã có cô cháu gái lo hết mọi thứ, ngày nào đi đâu, xe cộ thế nào, chọn lựa ai làm hướng dẫn viên, ăn trưa ở đâu, buổi tối buổi sáng thì ăn gì v.v… Mọi thứ đã có cô cháu út lo lắng chu tất, cậu mợ chỉ tuân lệnh lên đường và hưởng thụ những ngày hạnh phúc êm ả với gia đình trong thành phố của núi Ngự sông Hương.

Bởi vì Huế đẹp, nên nhiều văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ viết về Huế là lẽ thường. Nhưng đối với tôi, Huế vốn là một tuyệt tác nghệ thuật, cho nên nếu muốn viết thêm về Huế đẹp, Huế thơ, thì e rằng hơi khó, quả là lực bất tòng tâm. Vậy cho nên, bên cạnh vài nét chấm phá của mấy ngày du ngoạn, tôi sẽ cố ghi lại đây những điều đã ăn sâu vào tiềm thức, nhất là những ký ức của 18 năm từ lúc chào đời cho đến lúc rời Huế, vô tình khởi đầu một chặng đường tha hương kéo dài hơn nửa thế kỷ. Nếu đây đó có sự trộn lẫn giữa thực và ảo, giữa ký ức và hiện tại, thì cũng mong độc giả xem đó là chuyện thường tình, vì quả thực, khi viết về Huế, tôi khó lòng phân định giữa cái gì là ảo, cái gì là thực.

Thăm Hoàng Thành

Hôm đầu tiên, chúng tôi đi thăm Hoàng Thành, Chùa Linh Mụ và thăm nơi an nghĩ của cháu gái. Bắt đầu với Hoàng Thành là một chọn lựa vô cùng lý tưởng. Công trình quy mô lộng lẫy này không chỉ là ký ức của lịch sử triều Nguyễn, mà còn là một quần thể kiến trúc nghệ thuật vĩ đại có một không hai của Việt Nam, trong suốt cả chiều dài lịch sử 4000 năm. Hoàng Thành không chỉ nổi bật về kiến trúc đậm đà dân tộc, mà về cảnh quang tổng thể, nó còn là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh và hài hòa về phong thủy. Các công trình kiến ​​trúc của Hoàng Thành được bố trí cẩn thận trong tâm thái cùng sống với thiên nhiên của khu vực, và được sắp xếp theo nguyên tắc vũ trụ học, Ngũ Hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và Ngũ Sắc (vàng, trắng, xanh, đen, đỏ).

Mỗi công trình kiến trúc chính đều được bao bọc bởi những vật thể phụ chung quanh, luôn luôn được sắp xếp đối xứng theo một tinh thần nhất quán, là tả văn hữu võ (bên trái quan văn, bên phải quan võ), cũng như tả nam hữu nữ (đàn ông bên trái, phụ nữ bên phải). Trục chính của Hoàng Thành hướng đến Ngọ Môn Quan, cột cờ, Phú Vân Lâu, Đàn Nam Giao, đỉnh núi Ngự Bình, những địa danh đã khắc ghi vào ký ức người Huế qua nhiều thế hệ. Bao bọc bên ngoài Hoàng Thành là vòng hào rộng, đi kèm với những khoảng đất trống làm phương tiện phòng thủ khi có chiến tranh. Với vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc trong một quần thể rộng lớn, chứa hàng trăm công trình kiến trúc độc đáo vốn đã gắn liền với thăng trầm lịch sử, Hoàng Thành đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho biết bao tao nhân mặc khách.

Chúng tôi may mắn có anh hướng dẫn viên rất xuất sắc, không những có khả năng diễn đạt lôi cuốn, mà còn có một kho kiến thức lịch sử uyên thâm, đúc kết từ những tư liệu lịch sử chính thống, cộng thêm những kiến thức tự tìm hiểu thêm. Ngoài ra, anh hướng dẫn viên này có một đời sống tâm linh rất đáng chú ý: Trong một quần thể nào đó, anh tránh không nói đến những điều cấm kỵ mang tính huyền bí. Nhưng anh sẵn sàng cắt nghĩa điều đó một cách ngọn ngành, sau khi đã rời khỏi không gian của quần thể đó. Tôi không thể phân tích thái độ đó xuất phát từ đâu, nhưng điều mà tôi cảm nhận rõ ràng nhất là ý thức yêu nghề và sự gắn bó mật thiết giữa cá nhân anh và các công trình lịch sử. Có lẽ đối với anh, cắt nghĩa một chi tiết lịch sử không chỉ có nghĩa là truyền đạt kiến thức cho người nghe, mà anh được đắm mình trong dòng lịch sử, mỗi lần mỗi khác, mỗi nhóm du khách theo mỗi cách.

Cửa Ngọ Môn (mặt sau) & Điện Thái Hòa

Đầu tiên chúng tôi được dẫn lên Ngọ Môn Quan. Nơi đây trong những buổi trưa hè oi bức cách đây 60 năm, tôi thường cùng bạn học rủ nhau mang sách vở lên cùng nhau học bài ở tầng lầu, và tận hưởng vị mát lạnh của nền đá cẩm thạch. Còn ngoài ra, đó là một khu vực vắng vẻ, không có gì để xem. Giờ đây, các di vật lịch sử đã được phục chế và mang trở lại vị trí của chúng. Và thật không ngờ, Ngọ Môn Quan có nhiều sự tích liên quan với một chiều sâu lịch sử đáng trân trọng, mà người địa phương nên biết. Hóa ra, kiến thức lịch sử của chúng tôi thuở đó còn nông cạn quá, không hề biết chiều sâu tinh thần còn ẩn dấu đằng sau các công trình mà mình tiếp xúc hàng ngày.

Điện Thái Hòa cũng thế, thuở đó là một tòa nhà cũ kỹ nhuốm màu rêu phong, suốt ngày cửa đóng then cài. May mắn lắm mới có ông quản gia đi ngang qua, và nếu ông đang có gì vui trong lòng, thì chúng tôi mới được mở cửa để vào xem vài phút, nhưng cũng chỉ xem cho vui, chứ không khám phá gì thêm ngoài một vài vật thể không có giá trị gì và những cột kèo đã tróc sơn. Giờ đây, mọi thứ đã được phục chế trở về trạng thái ban đầu. Chúng tôi quá ngạc nhiên về sự tráng lệ của nó và cảm nhận đến ngỡ ngàng thần thái nghiêm trang của những buổi thiết triều để nhà vua bàn luận việc nước. Chúng tôi được cắt nghĩa cung cách hoạt động của những buổi thiết triều, quan văn quan võ đứng ở đâu và thế nào là quan nhất phẩm đến quan cửu phẩm. Cám ơn anh hướng dẫn viên. Không có anh thì chúng tôi đi tham quan cả ngày cũng giống như người mù sờ voi, không học hỏi thêm được gì.

Chúng tôi được hướng dẫn để tham quan các cơ quan sâu hơn bên trong, nơi nhà vua làm việc, nơi các bà Hoàng hậu sinh sống; rồi vào thăm đền miếu nơi thờ các vị vua đã băng hà. Và cuối cùng là Điện Kiến Trung, quần thể nguy nga và quan trọng bậc nhất của Tử Cấm Thành. Cái tên Tử Cấm Thành cũng nói lên tính chất của nó. Đây là nơi nội bất xuất, ngoại bất nhập, không ra không vào. Trừ nhà vua và vài nhân vật quan trọng, tất cả mọi người, khi đã vào trong Tử Cấm Thành là chôn chân trong đó. Cung tần mỹ nữ thì suốt đời ở đó, nếu may mắn sẽ được “hưu trí” và xuất cung ở tuổi khoảng 40. Tôi bâng khuâng tự hỏi, làm sao trong một diện tích đất chật hẹp chỉ trên dưới 10 hec-ta, diện tích nhà để ăn, ngủ, sinh hoạt, làm việc còn nhỏ hẹp hơn nhiều, mà phải chứa cả ngàn con người, đại đa số là thiếu nữ còn trinh, tranh giành nhau một ân huệ là được nhà vua để mắt đến. Trong bối cảnh đó thì quan hệ giữa cung nữ với nhau phức tạp đến dường nào. Ghen tuông đố kỵ là chuyện tất yếu. Anh hướng dẫn nói nhỏ rằng, phiền phức lắm bác ạ. Ngoài ra không nói gì thêm. Tôi cũng ái ngại không hỏi gì nhiều.

Đã vào xem Tử Cấm Thành, ắt cũng nên biết đời sống của cung tần mỹ nữ. Họ là ai trước khi bước chân vào cung? Đó là những thiếu nữ trẻ chưa chồng, con gái của quan chức có vai vế khá lớn trong triều đình. Cha mẹ tìm cách đưa con gái tiến cung với một hy vọng lớn nhất, là được nhà vua sủng ái, để cho cả gia tộc được đổi đời. Đó là một ván bài đánh cược với độ rủi ro cực cao. Đem con gái ra đặt cược cho một viễn ảnh dường như không thể trở thành hiện thực. Ôi, oan nghiệt thay số phận của người phụ nữ trong chế độ phong kiến! Kể từ ngày bước chân vào cung cấm, cung tần mỹ nữ xem như tách hẳn đời sống bên ngoài, gia đình thăm viếng cũng rất hạn chế. Trong suốt cuộc đời và nếu may mắn, cung phi chỉ được tiếp xúc với một người đàn ông duy nhất, đó là vua. Và nếu cái may mắn duy nhất đó không đến, thì cuộc đời cung nữ không khác gì bị giam lỏng, không nhớ quá khứ, không thấy tương lai, không một lần được ân ái trong suốt cuộc đời con gái. Sự oan nghiệt này đã làm cho nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Gia Thiều vào thế kỷ 18, tức Ôn Như Hầu, phải lên tiếng tố cáo sự bất công, nỗi buồn và sự cô đơn của những người phụ nữ này trong tác phẩm “Cung Oán Ngâm Khúc”, tạm dịch là “nỗi ai oán trong cung đình”.

Điện Kiến Trung & Hành lang Tử Cấm Thành

Chùa Thiên Mụ

Chúng tôi rời Hoàng Thành để lên đường tham quan chùa Thiên Mụ. Xe đi ngang qua Phú Văn Lâu, anh hướng dẫn viên hỏi tôi: “Bác còn nhớ Phú Vân Lâu không”? Nhớ chứ, không những nhớ mà nó còn ghi đậm dấu ấn trong ký ức tôi không hề phai, dù vết thời gian đã trải qua hơn nửa thế kỷ. Bên kia đường là bến Thương Bạc, nơi chiều chiều cuối tuần tôi thường cùng bạn bè đến tắm sông. Nói tới Phú Vân Lâu chắc hẳn phải nói đến Bến Vân Lâu, một bến nước đã đi vào văn học bằng những câu ca buồn não ruột theo điệu Nam Ai, một đặc trưng của Ca Huế không nơi nào có:

Chiều chiều trước bến Vân Lâu
Ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông
Thuyền ai thấp thoáng trên sông
Đưa câu Mái Đẩy chạnh lòng nước non

Vừa ở trong Tử Cấm Thành đi ra, nơi chất chứa oan khuất của nhiều phận đời cung nữ, làm liên tưởng đến bài Nam Ai não nùng ấy, lòng tôi không khỏi ngậm ngùi tự hỏi, có phải ba câu đầu là tâm sự ai oán của cung tần mỹ nữ, nói lên tiếng lòng không đầu không kết, không nhớ quá khứ, không còn hy vọng ở tương lai? Còn hai câu sau, có phải là tâm sự của ai đó, dường như là chí sĩ Trần Cao Vân, đang chống thuyền đợi người tri âm đến để bàn luận chuyện tìm đường cứu nước? Ấy là cảm xúc nhất thời đầy cảm tính, chứ tôi không biết tác giả bài Nam Ai này gởi gắm tâm sự gì đằng sau câu chữ ấy. Nếu cảm xúc có sai, thì cũng xin các bạn xem đó chỉ là cảm xúc gợi nhớ ký ức mà thôi.

Xe đi dọc tả ngạn sông Hương lên hướng Kim Long. Nửa thế kỷ trước, đây còn là một vùng hoang sơ, dân cư thưa thớt, đường sá gập ghềnh. Nay con đường đó đã trở thành trục giao thông quan trọng, những bãi lao sậy hoang sơ bên bờ sông đã biến mất, thay vào đó là một quần thể công viên dài vài cây số, nơi nam thanh nữ tú thường đến hẹn hò, nơi mọi người già trẻ đến tập thể thao mỗi ngày. Kim Long đã trở thành nơi đáng sống vô cùng. Cuối khu vực Kim Long là Chùa Thiên Mụ tọa lạc trên một đồi đất cao.

Gió đưa cành trúc la đà,
Hồi chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.

Với lịch sử hơn 400 năm, chùa Thiên Mụ không chỉ là một điểm đến tâm linh mà còn là biểu tượng văn hóa, kiến trúc độc đáo của cố đô. Đến Huế mà không được thăm chùa Thiên Mụ, chắc hẳn du khách sẽ vô cùng buồn rầu nuối tiếc. Đó là một quần thể có phong cảnh hữu tình, có đồi thông, có sông nước lượn quanh, tạo thành một cảnh quan hiếm có, nơi dừng chân để du khách thư giãn, chụp hình, hưởng thụ sự bình yên của thiên nhiên và chiêm ngưỡng chiều sâu lịch sử với kiến trúc độc đáo trong một quần thể mang đậm nét tâm linh.

Nổi bật trong quần thể chùa Thiên Mụ là tháp Phước Duyên bảy tầng với chiều cao 21 mét, với kiến trúc có một không hai trong thế kỷ 19, và đã trở thành kiến trúc kiểu mẫu cho những nơi thờ Xá lợi Phật. Tiếc là để bảo tồn di tích cổ, du khách không được vào bên trong để chiêm bái các đức Phật khác nhau, mỗi tầng một vị. Vả chăng, việc giữ gìn sự tôn nghiêm và tĩnh lặng cho nơi thờ tự cũng là chuyện nên làm. Du khách nào có thì giờ, thì có thể tìm hiểu lịch sử ngôi chùa qua những bia đá đặt khắp nơi.

Bên cạnh tháp Phước Duyên còn có Điện Đại Hùng, có cổng Tam Quan, mỗi nơi đều lưu giữ những di vật lịch sử đáng quý. Ở phía sau cùng là mộ tháp của Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, vốn đã trụ trì lâu năm ở chùa Thiên Mụ và là một vị chân tu đức cao trọng vọng mà mọi người ai cũng ngưỡng mộ.

Một di vật nổi tiếng trong chùa Thiên Mụ là chiếc xe hơi đã đưa Hòa Thượng Thích Quảng Đức đến chỗ tự thiêu trong phong trào Phật Giáo năm 1963. Nhìn di vật đó, lòng tôi không khỏi bùi ngùi nghĩ về những ngày tuổi trẻ hào hùng thuở ấy. Đó là một buổi sáng tháng sáu năm 1963, chúng tôi vài ba đứa đang ngồi trong quán nước ở sân sau trường Quốc Học, bỗng nhiên tin tức về Thích Quảng Đức tự thiêu đến như một cơn bão. Chúng tôi gạt phăng các chiếc ghế nhựa, chạy ra nhà xe và đèo nhau lên chùa Từ Đàm, nơi đã có hàng trăm sinh viên, học sinh, phật tử tề tựu để dõi theo tình hình. Nơi đó, chúng tôi cũng kịp nghe tin bà Trần Lệ Xuân đã họp báo và nói về „hành động tự thiêu của Thích Quảng Đức chỉ là một buổi Barbequeu [*] không có tác dụng chính trị gì“.

Lời nói xúc phạm tôn giáo đó đã châm thêm dầu cho phong trào Phật Giáo. Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã thay đổi cục diện của phong trào; hình ảnh tự thiêu của Hòa Thượng đã thay đổi cách nhìn của thế giới về chính sách đàn áp tôn giáo, đã làm cho nhiều đồng minh, kể cả Mỹ quay lưng với chế độ Ngô Đình Diệm. Bà Nhu không đoán được rằng, ngày tàn của chế độ đã bắt đầu điểm. Và quả thực, chỉ năm tháng sau, chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ hoàn toàn. Thật đáng tiếc, chế độ với những thành quả to lớn của 7 năm cầm quyền, đã sụp đổ vì chính sách kỳ thị tôn giáo của chính mình.

Tháp Pháp Duyên & Mộ tháp Hòa Thượng Thích Đôn Hậu

Bên cổng chùa, đứng trên cao nhìn xuống bến đò bên dưới hơn 50 bậc cấp, tôi chợt nhớ một truyền thuyết liên quan đến vùng đất Kim Long của chùa Thiên Mụ. Có lẽ chỉ là một hư cấu lịch sử, nhưng nó đã đi vào văn học với nhiều ẩn ý sâu xa.

Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm yêu, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.

Đó là hai câu thơ nói về Vua Thành Thái, một vị vua trẻ, đẹp trai, có tinh thần cởi mở, cầu tiến, và có nếp sống phong lưu hào hoa. Bị lôi cuốn bởi phong cảnh hữu tình của vùng sông nước Hương Giang, nhà vua cải trang thành một người du khách trẻ để ngao du vùng Kim Long. Lúc trở về, nhà vua phải đi đò, được chèo chống bởi một cô gái vô cùng duyên dáng. Nhà vua xao xuyến vì dáng vẻ rụt rè và đôi má ửng hồng của cô lái đò. Nhà vua bắt đầu tán tỉnh: “Này cô gái, cô có muốn cưới hoàng đế không”? Cô gái sợ hãi xua tay trả lời: “Ông đừng đùa như rứa, coi chừng cả hai đều bị chém đầu như chơi”. Nhà vua chưa buông tha: “Ta không đùa mô. Nếu cô ưng, ta sẽ làm mai mối chuyện này”. Cô lái đò thẹn thùng, đôi má càng ửng hồng hơn, cô đưa tay áo che mặt cười khúc khích, và không dấu một nụ cười bâng quơ, như thể đang xây một giấc mơ chưa thành sự thật. Trên đò có một vị khách lớn tuổi ăn mặc bảnh bao với dáng phong lưu nho nhã. Ông cười, nói với cô lái đò: “Này cô gái, cô cứ nói ưng đi, rồi xem câu chuyện xoay vần về mô”. Cô gái thẹn thùng nhìn người khách trẻ, cười khúc khích và buông một câu ngắn ngủi: “Ưng đó”. Vua Thành Thái bèn đứng dậy, đến bên cô gái đò và nói dịu dàng: “Quý phi của trẫm nghỉ ngơi đi, để trẫm chèo tiếp cho”.

Và như thế, kể từ ngày hôm đó, cô lái đò trở thành cung phi một cách ngẫu nhiên. Một phút đùa vui bỗng nhiên được lên mây. Trở thành quý phi của nhà vua là giấc mơ khó thành của bao cô gái danh gia vọng tộc đương thời. Cuộc đời cô lái đò đã thăng hoa rồi chăng? Không nghe sử sách nói gì về một cung phi của Vua Thành Thái có gốc gác lái đò, cho nên người đời sau phỏng đoán rằng, sau vài ngày vui chơi, ân ái thỏa thích, nhà vua trả cô lái đò về Tử Cấm Thành, cô trở thành một cung nữ bình thường như bao cung nữ khác. Từ giấc mơ hưng phấn được trở thành quý phi, đã trở thành một ác mộng ám ảnh suốt cuộc đời con gái, buồn thảm, cô độc trong cung cấm. Có phải đây là bản án chung thân cho số phận cô lái đò? Tất cả bắt đầu bằng vài lời đùa cợt của một người quyền uy đứng trên trăm họ!

***

Chúng tôi trở về nhà lúc trời nhá nhem tối, một ngày du ngoạn với nhiều ký ức tuổi thơ. Chúng tôi đứng trước nhà, lòng vẫn còn vương vấn Hoàng Thành khi còn nhớ mang máng vài câu thơ của ai đó:

Thành quách uy nghi dưới nắng vàng,
Ngọ Môn rực rỡ nét đài trang.
Lầu cao soi bóng dòng Hương biếc,
Điện ngọc trầm ngâm dấu cũ loang.

./.

Ghi chú: [*]Barbequeu là chữ mà bà Trần Lệ Xuân dùng trong buổi họp báo. Barbequeu (BBQ) có nghĩa là buổi nướng thịt ngoài trời để vui chơi.

Tôn Thất Thông & Hoàng Lan Anh
Bad Nauheim, tháng giêng năm 2026
(Còn tiếp: Huế-2, Hà Nội, Ninh Bình, Phú Quốc)

Xem các bài trước:
Về thăm quê hương (1) – Saigon, hoa và lệ
Về thăm quê hường (2) – Hội An phố chợ đông người

Trở về trang chủ
Xem thêm các bài viết và dịch của Tôn Thất Thông

Vì bận việc đột xuất, chúng tôi không biết bao giờ sẽ tiếp tục để hoàn tất thiên ký sự này. Tạm thời, xin kèm theo bên dưới đường link để các bạn tải ba bài vừa qua dưới dạng PDF, đọc offline cho thoải mái:

Ký sự – Về thăm quê hương (1, 2, 3) – Saigon, Hội An, Huế.

Xin mời xem và nghe bài Tà Áo Tím với giọng ca Vân Khánh: