Trang chủ » NƯỚC MỸ CÓ NGUY CƠ ĐÁNH MẤT LỢI THẾ PHÁT MINH SÁNG CHẾ NHƯ THẾ NÀO?

NƯỚC MỸ CÓ NGUY CƠ ĐÁNH MẤT LỢI THẾ PHÁT MINH SÁNG CHẾ NHƯ THẾ NÀO?

Tháng Mười 2021
H B T N S B C
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Tìm chuyên mục

Thư viện

Tác giả: Walter Isaacson – Time.com 03-01-2019 
Người dịch: Lê Nguyễn

Tóm lược: Hoa kỳ đã dẫn đầu thế giới trong phát minh khoa học kỹ thuật kể từ sau Thế chiến thứ hai và không ngừng áp dụng những tiến bộ đó để nâng cao chất lượng cuộc sống, gần nhất là internet và các ứng dụng của nó. Nhưng những thập niên gần đây, chính phủ Hoa kỳ đã giảm mạnh kinh phí cho lĩnh vực nghiên cứu phát minh. Bộ ba tam giác là chính phủ, học viện và công nghiệp tư nhân đang bị đảo ngược về lảnh đạo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Kết luận bài viết của giáo sư  Walter Isaacson khuyến  cáo Hoa Kỳ  cần gấp rút xem xét lại chính sách tài trợ là bước quan trọng đầu tiên để tạo ra, một lần nữa, những đột phá trong nghiên cứu sẽ dẫn đến những đổi mới trong tương lai, thay vì tiếp tục con đường hiện nay của Mỹ là phá hủy hạt giống của Hoa Kỳ  trước vụ thu hoạch tiếp theo.

***

Trong 50 năm qua, sự phát triển đầy hứng khởi  của nền kinh tế Mỹ đã được thúc đẩy bởi sự kết hợp của ba phát minh: máy tính, vi mạch và internet.

Nghiên cứu và phát triển được tạo ra từ một liên minh tam giác gồm chính phủ, học viện và doanh nghiệp tư nhân. Các máy tính đầu tiên được tài trợ bởi quân đội, được chế tạo tại Đại học Pennsylvania và Harvard, sau đó được thương mại hóa bởi các công ty như Univac và IBM. Các bóng bán dẫn được phát minh tại Bell Labs, sau đó do liên bang tài trợ cho các chương trình tên lửa chiến lược và không gian đã khiến các công ty tư nhân như Fairchild và Intel nghĩ ra cách để khắc hàng nghìn bóng bán dẫn lên các chip silicon nhỏ xíu. Rồi Internet nổi tiếng được hình thành bởi DARPA [2] và được xây dựng bởi các trường đại học nghiên cứu làm việc với các nhà thầu tư nhân như BBN[3].

Bộ máy ba bên của chính phủ làm việc với các trường đại học và các tập đoàn tư nhân không chỉ đơn thuần là một mảng ngẫu nhiên với mỗi nhóm theo đuổi mục tiêu riêng của mình. Thay vào đó, trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ba nhóm đã được cố ý hợp nhất với nhau thành một tam giác phát minh.

Người chịu trách nhiệm cao nhất trong việc phối hợp khối vận hành này là Vannevar Bush, một giáo sư MIT, người đã chế tạo một máy tính cơ học vào năm 1931. Bush rất phù hợp với nhiệm vụ này vì ông là một ngôi sao sáng đồng thời trong cả ba cơ quan: ông là khoa trưởng Phân khoa Kỹ thuật Trường Đại học Kỹ thuật MIT, vừa là người sáng lập công ty điện tử Raytheon và quản trị viên khoa học quân sự hàng đầu của Mỹ trong Thế chiến thứ hai.

Từ trái: Dr Vannevar Bush, TT Harry Truman, Dr James Bryan Conant trong buổi lễ trao Huân chương Bội Công cấp cao cho hai nhà khoa học vì công trình nghiên cứu nguyên tử lực. Photo by AP/REX/Shutterstock (5957798a)

Ông say mê nâng cao vai trò của khoa học và kỹ thuật trong xã hội vào thời điểm – giữa những năm 1930 – khi dường như không có nhiều điều thú vị xảy ra trong cả hai lĩnh vực. Những phát minh mới đáng chú ý nhất được ghi nhận  tại Hội chợ Thế giới năm 1939 ở New York là đồng hồ chuột Mickey và dao cạo râu an toàn Gillette. Sự ra đời của Thế chiến thứ hai đã thay đổi điều đó, tạo ra một loạt các công nghệ mới với Bush là nhân vật  dẫn đầu.

Lo lắng rằng quân đội Mỹ đang tụt hậu về công nghệ, ông đã vận động Chủ tịch Harvard James Bryant Conant và các nhà lãnh đạo khoa học khác thuyết phục Tổng thống Roosevelt thành lập Ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng và sau đó là Văn phòng Nghiên cứu và Phát triển Khoa học của quân đội, ông đứng đầu cả hai tổ chức đó. Với chiếc ống vố thường trực trên môi và một cây bút chì trong tay, ông đã giám sát Dự án Manhattan chế tạo bom nguyên tử cũng như các dự án phát triển hệ thống radar và phòng không.

Khi chiến tranh kết thúc, Bush đã đưa ra một báo cáo vào tháng 7 năm 1945 theo lệnh của Tổng thống Roosevelt ( sau đó được giao cho Tổng thống Truman) về chủ trương tài trợ của chính phủ cho nghiên cứu cơ bản với sự hợp tác của các trường đại học và công nghiệp tư nhân. Bush đã chọn một tiêu đề gợi cảm và tinh túy của Mỹ cho báo cáo của mình: “Khoa học, Biên giới vô tận”. Lời giới thiệu của ông đáng được đọc lại bất cứ khi nào các chính trị gia đe dọa làm mất khả năng nghiên cứu cần thiết cho việc phát minh trong tương lai. Bush viết: “Nghiên cứu cơ bản dẫn đến kiến ​​thức mới . Nó cung cấp vốn khoa học. Nó tạo ra quỹ kiến thức mà từ đó các ứng dụng thực tế  được rút ra. ”

Bush cũng viết, cuộc chiến đã làm cho “rõ ràng vượt qua mọi nghi ngờ” rằng khoa học cơ bản — khám phá các nguyên tắc cơ bản của vật lý hạt nhân, laser, vật liệu bán dẫn, khoa học máy tính, radar — “là hoàn toàn cần thiết cho an ninh quốc gia”. Ông nói thêm, nó cũng rất quan trọng đối với an ninh kinh tế của Mỹ. “Các sản phẩm mới và quy trình mới không tự xuất hiện đầy đủ. Chúng được thành lập dựa trên các nguyên tắc mới và quan niệm mới, do chúng được phát triển một cách rất cẩn thận bằng nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học thuần túy nhất. Một quốc gia phụ thuộc vào những nước khác về kiến ​​thức khoa học cơ bản mới sẽ chậm phát triển công nghiệp và yếu thế trong vị thế cạnh tranh trong thương mại thế giới. “

Mô tả của Bush về việc nghiên cứu cơ bản cung cấp hạt giống cho các phát minh thực tế được gọi là “mô hình tuyến tính của sự phát minh ”. Dựa trên báo cáo này, Quốc hội đã thành lập Quỹ Khoa học Quốc gia.

Quan trọng nhất, chi tiêu của chính phủ không được chuyển vào các phòng thí nghiệm do chính phủ điều hành, như đã từng làm với Dự án Manhattan. Thay vào đó, kinh phí nghiên cứu của chính phủ được chuyển đến các trường đại học và các nhà thầu tư nhân.“Không người Mỹ nào có ảnh hưởng lớn  đến sự phát triển của khoa học và công nghệ hơn Vannevar Bush”, Chủ tịch MIT Jerome Wiesner tuyên bố và nói thêm rằng “sự đổi mới quan trọng nhất của ông là kế hoạch mà theo đó thay vì xây dựng các phòng thí nghiệm lớn của chính phủ, thì các hợp đồng được thực hiện với các trường đại học và các phòng thí nghiệm công nghiệp tư. ”Theo cách riêng của nó, việc tạo ra mối quan hệ tam giác giữa chính phủ, công nghiệp và học viện là một trong những đổi mới quan trọng giúp tạo ra cuộc cách mạng công nghệ vào cuối thế kỷ 20″. Bộ Quốc phòng nhanh chóng trở thành nhà tài trợ chính cho phần lớn nghiên cứu cơ bản của Mỹ. Đến năm 1965, 23 phần trăm tài trợ của chính phủ liên bang cho các viện  đại học khoa học đến từ Lầu Năm Góc – gần gấp đôi so với Quỹ Khoa học Quốc gia. Lợi tức mang lại từ khoản đầu tư đó  rất lớn, không chỉ dẫn đến internet, mà còn dẫn đến nhiều trụ cột của sự đổi mới và bùng nổ kinh tế của Mỹ thời hậu chiến.

Một vài trung tâm nghiên cứu của công ty, đáng chú ý nhất là Bell Labs, đã tồn tại trước chiến tranh. Bell Labs tập hợp các nhà lý thuyết, nhà khoa học vật liệu, nhà luyện kim, kỹ sư và thậm chí cả những người leo cột điện thoại. Bell Labs đã cho thấy sự phát minh bền vững có thể xảy ra như thế nào khi những người có nhiều tài năng khác nhau được tập hợp lại, tốt nhất là ở gần nhau thật sự về thể chất, nơi họ có thể gặp gỡ thường xuyên hoặc tùy theo cơ hội.

Sau lời kêu gọi ngân vang của Bush đưa ra, các hợp đồng chính phủ và các trung tâm nghiên cứu của các công ty bắt đầu phát triển. Xerox đã tạo ra Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto, được gọi là Xerox PARC[4], với tư cách là một trong những nhà lãnh đạo, Bob Taylor, người đã giúp tạo ra Internet trong khi điều hành Văn phòng Kỹ thuật Xử lý Thông tin của DARPA. Xerox PARC đã phát triển giao diện dùng đồ họa hiện được sử dụng trên máy tính cá nhân, mạng ethernet và hàng chục cải tiến khác đã trở thành một phần của cuộc cách mạng kỹ thuật số.

Ngoài ra, các phòng thí nghiệm hỗn hợp kết hợp giữa chính phủ, học viện và công nghiệp đã được đưa ra. Trong số đáng chú ý nhất là Tập đoàn RAND[5], ban đầu được thành lập để cung cấp nghiên cứu và phát triển (và thành tên riêng của nó) cho Không quân và Viện Nghiên cứu Stanford (SRI).

Nhiều tập đoàn tư nhân mới quan trọng nhất của Mỹ được hình thành bởi mối quan hệ ba bên trong tam giác phát minh  của Bush.

Lấy Google làm ví dụ. Cha của Larry Page là giáo sư khoa học máy tính và trí tuệ nhân tạo tại bang Michigan, người nhận được các khoản tài trợ nghiên cứu lớn của liên bang. Cha mẹ của Sergey Brin là những người tị nạn Nga  được thâu nhận đến Mỹ. Cha anh trở thành giáo sư toán học tại Đại học Maryland, nơi Bộ Quốc phòng tài trợ các phương pháp tính toán quỹ đạo tên lửa, và mẹ anh trở thành nhà nghiên cứu tại Trung tâm bay vũ trụ Goddard của NASA gần đó.

Cả Larry và Sergey đều theo học tại Stanford với tư cách là nghiên cứu sinh trong một chương trình do chính phủ tài trợ có tên là Sáng kiến ​​Thư viện Kỹ thuật số. Số tiền đến từ Quỹ Khoa học Quốc gia và một nhóm các cơ quan liên bang khác. Với học bỗng  được trả bằng chương trình này, họ đã nghĩ ra các hệ thống có tên BackRub và PageRank lập chỉ mục World Wide Web. Google đã được ra đời từ đó.

Một sự đổi mới tuyệt vời khác thúc đẩy nền kinh tế Mỹ và tăng khả năng cạnh tranh cũng được chính phủ liên bang tài trợ thông qua các trường đại học và phòng thí nghiệm của công ty. Bắt đầu từ nhiệm kỳ tổng thống của George H.W. Bush, dự án Bộ gen con người đã giải mã trình tự DNA và khởi động một cuộc cách mạng trong y sinh học,  tạo ra những phát kiến ​​và khám phá quan trọng nhất của thế kỷ 21. Eric Lander [6], một trong những người đứng đầu dự án bộ gen, cho biết: vượt  qua tất cả, chính phủ liên bang đã đầu tư rất nhiều vào nghiên cứu cơ bản. “Chính sách đó đã tạo ra động cơ khám phá  cho các trường đại học Mỹ nhằm thu hút những nhà khoa học tài năng  nhất đến với đất nước  của chúng ta và tạo ra những công ty sáng tạo nhất thế giới.”

Lander đặt ra câu hỏi cấp bách là “liệu ​​Mỹ có nhường vị trí dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ cho nước khác hay không. Lần đầu tiên kể từ Thế chiến thứ hai, vị trí đứng đầu của chúng ta đang lâm nguy. “

Một báo cáo năm 2017 từ Hội đồng Đại Tây Dương đã lặp lại câu nói của Vannevar Bush khi họ gọi những ví dụ như vậy về nghiên cứu cơ bản do liên bang tài trợ tại các phòng thí nghiệm của trường đại học và công ty tư nhân  là “hạt giống khoa học của quốc gia, cho phép R&D về cơ bản trong giai đoạn tiền cạnh tranh sẽ phát triển thành công nghệ có thể thu hoạch trong tương lai.”


Tuy nhiên, báo cáo lưu ý, “chi tiêu cho R&D của liên bang đã thu hẹp đáng kể trong vài thập niên qua; từng là nước dẫn đầu thế giới, Hoa Kỳ hiện đứng thứ mười hai về chi tiêu cho R&D do chính phủ tài trợ tính theo tỷ lệ phần trăm GDP ”. Chi tiêu cho R&D của liên bang đã giảm từ khoảng 1.2% GDP năm 1976 xuống dưới 0.8% vào năm 2016. Đây là mức thấp nhất kể từ thời kỳ tiền Sputnik[7] và trong Nhóm Chiến lược Aspen  có thể vẫn còn một vài người biết và còn nhớ thời kỳ tiền Sputnik là gì.

Một phần sự sụt giảm trong nguồn tài trợ của liên bang đã được thay thế bằng sự gia tăng nghiên cứu của doanh nghiệp, đặc biệt là trong các lĩnh vực như công nghiệp dược phẩm, nơi rõ ràng nghiên cứu có thể dẫn trực tiếp đến các sản phẩm có giá trị. Trong những năm 1960, khoảng 70% tổng số R&D được tài trợ bởi liên bang, 30% đến từ khu vực tư nhân. Bây giờ những con số đó đã bị đảo ngược.

Nguồn vốn của công ty có xu hướng tập trung hơn vào sản phẩm. Khi sự cân bằng đã thay đổi khỏi nguồn tài trợ của chính phủ cho các phòng nghiên cứu ở  các trường đại học, nó cũng làm  giảm đi nghiên cứu khoa học cơ bản nhằm mục đích tạo ra kiến ​​thức lý thuyết cơ bản có thể tạo ra hạt giống  mà cuối cùng sẽ dẫn đến những đổi mới vĩ đại.

Sự sụt giảm đầu tư khoa học vào nghiên cứu cơ bản và phòng thí nghiệm đại học không phải là hiện tượng đảng phái hay sản phẩm của chính quyền Trump. Trong gần 25 năm, tài trợ của liên bang cho nghiên cứu đại học và tài trợ của tiểu bang cho giáo dục đại học đã giảm. Từ năm 2011 đến 2015, dưới thời chính quyền Obama, đầu tư liên bang vào nghiên cứu đại học đã giảm 13%.

Nhưng bây giờ nó thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn. Trong ngân sách đề xuất mới nhất từ ​​đảng Cộng hòa Hạ viện và chính quyền Trump, tài trợ liên bang nghiên cứu khoa học và công nghệ sẽ bị cắt giảm thêm 15 phần trăm.

Ngoài ra, bất chấp sự ra mắt của một số phòng thí nghiệm công ty như GoogleX, các tập đoàn tư nhân đã phá bỏ phần lớn các viện nghiên cứu như Bell Labs và Xerox PARC, một phần trước thách thức từ các nhà đầu tư ngắn hạn, những người yêu cầu khoảng thời gian ngắn hơn trong lợi tức đầu tư .

Những hậu quả tiềm tàng về kinh tế và an ninh có thể được báo trước bằng cách nhìn vào cách tiếp cận ngược lại hiện đang được thực hiện bởi Trung Quốc, quốc gia đang tài trợ rất nhiều cho nghiên cứu khoa học cơ bản, bao gồm cả trong các lĩnh vực quan trọng như trí tuệ nhân tạo (AI) và kỹ thuật di truyền.

Lấy ví dụ về lĩnh vực AI. Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 được công bố vào năm 2016, ban lãnh đạo Trung Quốc đã công bố tham vọng biến Trung Quốc thành “quốc gia phát minh” bằng cách khởi động 15 dự án “Đổi mới Khoa học và Công nghệ 2030 bằng các dự án nghiên cứu khổng lồ  ”. Chúng bao gồm dữ liệu lớn, sản xuất thông minh và người máy. Nó là một phiên bản có tính kích thích cao giống như nội dụng  bài báo năm 1945 của Bush thúc giục Mỹ kết hợp tài chính liên bang với các phòng thí nghiệm của trường đại học và công ty tư nhân. Một năm trước, vào tháng 5 năm 2017, Trung Quốc cũng đã thêm vào “Trí tuệ nhân tạo 2.0” làm siêu dự án thứ mười sáu.

Mục tiêu của dự án này rất táo bạo nhưng đơn giản: đưa Trung Quốc trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về AI vào năm 2030. Kết hợp tiền quỹ dồi dào của chính phủ với các sáng kiến ​​của doanh nghiệp và học viện, Trung Quốc hiện đang xây dựng một hệ sinh thái vượt qua cả những giấc mơ ngông cuồng nhất của Bush.

Chính quyền địa phương Thiên Tân, một thành phố cách Bắc Kinh hai giờ lái xe, đang gây quỹ 5 tỷ đô la để hỗ trợ phát triển AI và chính quyền trung ương đang xây dựng một công viên công nghệ AI trị giá 2.1 tỷ đô la ở ngoại ô phía tây Bắc Kinh.

Được hướng dẫn bởi tầm nhìn từ chính phủ, tiền cũng đang chảy vào khu vực tư nhân Trung Quốc. Các quỹ mạo hiểm và các quỹ tư nhân khác đã đầu tư 4.5 tỷ USD vào hơn 200 công ty AI của Trung Quốc từ năm 2012 đến năm 2017, theo Kai-Fu Lee, cựu giám đốc điều hành của Google và Microsoft, người hiện đang lãnh đạo một công ty đầu tư mạo hiểm, Sinovation Ventures. Công ty khởi nghiệp AI SenseTime đã huy động được 600 triệu đô la trong một thương vụ do Alibaba dẫn đầu, mang lại cho SenseTime một mức định giá tương đương hơn 3 tỷ đô la. CB Insights báo cáo rằng, theo một số hình thức đo lường nhất định, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ về tài trợ cho các công ty khởi nghiệp AI. Ví dụ: Trung Quốc chiếm 48% nguồn tài trợ cho các công ty khởi nghiệp AI trên thế giới vào năm 2017, so với 38% của Mỹ.

Các khoản tài trợ và đầu tư đã gặt hái được kết quả khích lệ. Sinh viên và lập trình viên của Trung Quốc hiện thường xuyên giành chiến thắng trong các cuộc thi quốc tế về AI và máy học ( machine learning )[a], một phần của AI. Baidu đi đầu trong lĩnh vực AI, với 2.000 nhà nghiên cứu, bao gồm cả tại các văn phòng ở Thung lũng Silicon và Seattle. Hiện nó cạnh tranh với Google với tư cách là công ty dẫn đầu toàn cầu về nghiên cứu AI và tự hào có chương trình chính xác và mạnh mẽ nhất để nhận dạng giọng nói. Theo tường trình của Kế hoạch Chiến lược Phát triển và Nghiên cứu Trí tuệ Nhân tạo Quốc gia của Nhà Trắng, trong lĩnh vực nghiên cứu về AI, thì Trung Quốc đã vượt qua Mỹ về số lượng các bài báo đề cập đến “học sâu” ( deep learning )[b] hoặc “mạng nơ-ron sâu” (deep neuron network )[c], các thuật ngữ AI về khả năng bắt chước hoạt động bộ óc con người.  Tại hội nghị thường niên của Hiệp hội vì sự tiến bộ của trí tuệ nhân tạo, tỷ lệ tác giả Trung Quốc trong các tài liệu nghiên cứu về AI được trình bày đã tăng từ 10% lên 23% trong giai đoạn 2012-2017, trong khi tỷ lệ tác giả Hoa Kỳ giảm từ 41% xuống 34%.

Trung Quốc có một lợi thế khác mà Mỹ không nên ghen tị. Đó là nó không bị hạn chế  trong việc thu thập dữ liệu và không  bị chống đối gì  về việc vi phạm quyền riêng tư cá nhân tại Trung Quốc. Điều này thật đáng lo ngại nhưng cũng là một lợi thế vì dữ liệu lớn sẽ thúc đẩy nhiều tiến bộ của AI. Trung Quốc nằm trên một kho dữ liệu lớn ngày càng tăng, khiến nó, như The Economist đã nói, nó là “Ả Rập Saudi của dữ liệu”.

Phiên bản của Trung Quốc về tam giác sáng chế Vannevar Bush là “quân sự-dân sự xoắn chặt nhau”, khuyến khích thu thập dữ liệu về công dân. Nó sử dụng công nghệ nhận dạng khuôn mặt để giám sát người dân trong nước. Ví dụ như ở Thâm Quyến, có những chiếc camera trên cột điện với lời nhắc “người đi sai lối qui định sẽ được chụp bằng công nghệ nhận dạng khuôn mặt”. Băng qua đường không đúng cách, khuôn mặt và tên của công dân có thể được hiển thị công khai trên màn hình gần đó và được đưa vào cơ sở dữ liệu.

Nhập truy vấn tìm kiếm vào Google ,công ty có thể thu thập dữ liệu để cải thiện thuật toán và tiếp thị sản phẩm cho bạn; thực hiện tìm kiếm tương tự trên Baidu và dữ liệu của bạn cũng được đưa vào cơ sở dữ liệu do chính phủ kiểm soát. Các chính sách thu thập dữ liệu tương tự được áp dụng mỗi khi ai đó ở Trung Quốc sử dụng ví WeChat, mua sắm trực tuyến trên Taobao hoặc gọi xe bằng Didi. Baidu sử dụng tính năng nhận dạng khuôn mặt của nhân viên để mở cổng an ninh trong sảnh đợi và công nghệ này cho phép khách hàng tại Kentucky Fried Chicken ủy quyền để thanh toán thông qua quét khuôn mặt. Công nghệ này cũng được sử dụng để nhận dạng hành khách tại cổng an ninh sân bay. Khi Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ năm ngoái đưa ra kế hoạch làm điều tương tự để xác minh danh tính của những người lên một chuyến bay nào đó ở Mỹ,  một cuộc tranh cãi đã nổ ra.

Như những ví dụ này cho thấy, có những yếu tố trong sáng kiến ​​cải tiến và công nghệ của Trung Quốc mà Hoa Kỳ sẽ không nên làm. Chẳng hạn như với việc nhận dạng khuôn mặt, AI và dữ liệu lớn, cũng như  trong chỉnh sửa gen, nhân bản và các loại công nghệ sinh học khác mà Trung Quốc ít bị chống đối về đạo đức và chính sách như tại Hoa Kỳ.

Nhưng các hạn chế về chính trị và đạo đức ở Mỹ càng khiến Mỹ đi trước Trung Quốc theo những cách khác, đáng chú ý nhất là tài trợ cho nghiên cứu cơ bản về khoa học và đầu tư vào các phòng thí nghiệm của trường đại học và công ty công nghiệp.

Một cách tốt để bắt đầu là làm hồi sinh các khoản đầu tư của chúng ta vào các trường đại học nghiên cứu, hiện đang bị yếu đi bởi cắt giảm và các thách thức khác. Hoa Kỳ có 32 trong số 50 trường đại học hàng đầu trên thế giới, là thỏi nam châm thu hút những sinh viên xuất sắc nhất thế giới. Lander, người từng là lãnh đạo của Hội đồng Cố vấn Khoa học và Công nghệ của Tổng thống Obama, cho biết: “Nhưng nước Mỹ ngày càng không tỏ ra chào đón sinh viên nước ngoài, số người có  đơn đăng ký năm nay đã giảm tới 30% trong một số chương trình “. Liệu thế hệ tiếp theo của các doanh nhân và nhà lãnh đạo từ khắp nơi trên thế giới có đi học tập ở nơi khác không? Đồng thời, chính quyền Trump đã đề xuất cắt giảm tài trợ cho nghiên cứu cơ bản. Quốc hội  trong phạm vi rộng lớn cũng cân nhắc việc đánh thuế học bổng của sinh viên sau đại học và  áp thuế đối với các khoản tài trợ của trường đại học, giúp tài trợ cho các chi phí không bao gồm học phí. “

Đảo ngược các chính sách như vậy là bước quan trọng đầu tiên để tạo ra, một lần nữa, những đột phá trong nghiên cứu sẽ dẫn đến những đổi mới trong tương lai, thay vì tiếp tục con đường hiện nay của Mỹ là phá hủy hạt giống của chúng ta trước vụ thu hoạch tiếp theo.

./.

Nguồn: How America Risks Losing Its Innovation Edge (https://time.com/longform/america-innovation)

Về tác giả: Walter Isaacson là nhà văn, người viết báo, giáo sư lịch sử tại Đại học Tulane, New Orleans, tiểu bang Louisiana, Hoa Kỳ  và là người viết sách tiểu sử bán chạy nhất. Cuốn sách gần đây của ông là Leonardo da Vinci. Một phiên bản của bài viết này xuất hiện trong một cuốn sách do Nhóm nghiên cứu chiến lược Aspen[1] xuất bản có tiêu đề “Công nghệ và An ninh Quốc gia “; ông từng là chủ tịch và CEO của nhóm này. Ông cũng từng là đồng chủ tịch và CEO của CNN và là biên tập viên cho báo Time. Bài viết cho tuần báo Time vào tháng Giêng năm 2019 trong mục Ideas có tựa đề: “How America Risks Losing Its Innovation Edge “.

Xem thêm: Những bài viết / dịch của Lê Nguyễn

Chú thích:

[1]Aspen Strategy Group, Viện Nghiên cứu chính sách chiến lược tại Washington D.C. một viện nghiên cứu phi lợi nhuận, không đảng phái, nơi tập hợp những người làm chính sách trước đây,  các học giả, phóng viên, các lảnh đạo công ty, những người có mục đích khám phá các chính sách ưu việt và an ninh quốc gia mà Hoa Kỳ có thể đối điện và bị thách thức. 

[2]Cơ quan nghiên cứu các dự án quốc phòng tiên tiến DARPA ( The Defense Advanced Research Projects Agency ), có trách nhiệm phát triển những kỹ thuật mới cho quân đội. 

[3]BBN Technologies, một công ty nghiên cứu chiếm được nhiều giải thưởng đặt tại Fresh Pondin Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ, năm 2009 được sát nhập vào Raytheon. 


[4]PARC, Công  ty nghiên cứu phát triển đặt tại Palo Alto, California  trước kia thuộc Xerox phụ trách sáng chế các sản phẩm liên quan đến máy tính và phần cứng. 

[5]RAND, Một ” think tank ” phi lợi nhuận , được sáng lập năm 1948 bởi công ty hàng không Douglas với  mục đích nghiên cứu và phân tích cho quân đội Hoa Kỳ. RAND được tài trợ bởi chính phủ, các quỹ tư nhân, các công ty  tư nhân, đại học và các nhà hảo tâm. 

[6]Eric Lander, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực bộ gen đã được Joe Biden bổ nhiệm vào chức vụ ngang hàng với bộ trưởng khoa học, cố vấn các vấn đề khoa học kỹ thuật cho Nhà Trắng một tuần trước ngày Biden nhậm chức Tổng thống 2021.

[7] tiền Sputnik là thời kỳ của những năm 50, vừa  mới sau Thế chiến thứ hai, đánh dấu cuộc chạy đua không gian Mỹ – Liên Xô trước lúc vệ tinh Sputnik được phóng lên quỹ đạo, Mỹ khá choáng váng về sự kiện này.

[a] máy học (machine learning ), [b] học sâu (deep learning) , [c] mạng nơ-ron sâu (neuron network ) là các thuật ngữ trong nghiên cứu thuộc lĩnh vực trí tuệ nhân tạo  (Artificial Intelligence – AI)