ĐẠO KHỔNG KHUYÊN HỌC TẬP TỐT ĐỂ PHỤC VỤ XÃ HỘI AN VUI, KHÔNG BẮT PHẢI THÀNH THÁNH NHÂN
Tác giả:Ogyu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng
Ở cổ đại không có chủ trương: Học có thể thành thánh nhân
Đức thông minh duệ trí của các tiên vương là do trời ban phú cho, người thường không thể có được. Do đó, ở cổ đại không có học thuyết (hoặc chủ trương) cho rằng bằng việc học có thể trở thành thánh nhân.(1)
Tiêu chuẩn ở cổ đại để gọi thánh là việc chế định ra lễ nhạc
Tôi nghĩ rằng các tiên vương có nhiều thứ đức tốt đẹp nên rất khó có tên gọi để diễn tả hết được. Việc gọi các tiên vương là thánh căn cứ vào việc họ đã chế định ra những thứ chưa có trước đó (chế tác). Các tiên vương đã sáng lập ra triều đại mới (khai quốc)(2)và chế định ra lễ nhạc(3). Hai việc này chỉ là 1 phần trong các công việc của các tiên vương đã thực hiện. Nếu như chỉ lấy đức của cá nhân làm tiêu chuẩn cho thánh, thì không bao gồm được thân phận thiên tử (nghĩa là chức phận an dân, lo hạnh phúc ấm no của mọi người). Nếu như lấy việc quản trị quốc gia bằng đức nhân (nghĩa là đức trị) thì các vị vua tài đức sau vị vua khai sáng triều đại mới, tất cả đều là thánh (như vậy không làm nổi bậc được sự vĩ đại của thánh). Tác dụng ích lợi đặt ra lễ nhạc đối với quản trị quốc gia là to lớn, và việc đặt ra lễ nhạc cũng là 1 thứ đức cụ thể của các tiên vương nên do đó có thể lấy làm tiêu chuẩn để đặt tên gọi cho thánh.
Thí dụ, trong kinh Thư viết: “Đây mới đúng là thánh, đây mới đúng là văn文”(4), và trong kinh Thi viết: “Thánhvà kính敬càng ngày càng tăng”(5). Ngoài ra, thánh là đức đứng thứ 3 trong 6 đức của Chu Lễ (6). Như vậy chắc chắn thánh nào có thể nói lên được tất cả các đức của các tiên vương. Tuy nhiên, một khi đã lấy từ thánhđể biểu hiện tầm mức vĩ đại của các tiên vương thì sau đó không còn có tên gọi nào cao hơn thánh (7).
Tiêu chuẩn gọi thánh của Tử Tư: thành誠
Tử Tư muốn đưa Khổng tử lên làm thánh nhưng Khổng tử không có sáng tác ra thứ mới chưa từng có trước đó, thêm vào đó Tử Tư nhất quyết nói “đạo được lập ra theo bản tính bẩm sinh của con người”, do đó ông bắt buộc phải nóibằng việc học có thể thành thánh nhân. Từ đó, Tử Tư lấy thành誠 làm thánh (8).
Tiêu chuẩn gọi thánh của Mạnh tử thật ra chỉ là nhân仁
Đến Mạnh tử, bởi vì ông muốn khuyên Tề Lương vương thay đổi nhà Chu (cách Chu mệnh) (9) nên tự cho mình là thánh nhân (10).Tuy nhiên sợ người đời cho mình không bằng vua Nghiêu, vua Thuấn, Văn vương và Võ vương (mà cho mình là thánh)nên kéo thêm ông Bá Di, Liễu Hạ Huệ cùng làm thánh(a) (11).
Thời đại của Tử Tư và Khổng tử không cách xa nên dư âm của Khổng tử vẫn còn lại, do đó lời của Tử Tư còn e dè không thể tự tiện muốn gì nói nấy. Do đó, ý nghĩa của từ “thánh nhân” hàm ý “thánh nhân là người giống như thần minh, người thường không thể đoán biết được.” (a)(12)
Trường hợp của Mạnh tử thì tiêu chuẩn để gọi thánh nhân, ông dừng lại ở việc “để có được thiên hạ (nghĩa là để làm vua) 1 điều bất nghĩa cũng không làm, 1 người vô tội cũng không giết hại”(13). Tuy nhiên, tiêu chuẩn này thật ra chỉ là tiêu chuẩn để gọi nhân nhân仁人 (người có đức nhân) chứ không đủ để gọi thánh nhân. Tóm lại, bởi vì thời Mạnh tử không cách quá xa thời Khổng tử, nên lời nói, chủ trương của Mạnh tử còn có chỗ cân nhắc như trên. Có điều cả 2 ông đều muốn cấp bách thuyết phục chủ trương của mình, anh dũng sửa sai trào lưu tư tưởng đương thời để cứu đời,nên trong lời nói câu văn có lúc đè nén có lúc giương cao đưa đến kết quả ý nghĩa ở cổ đại của từ thánh nhân không còn truyền đạt đúng. Thật là đáng tiếc thay.
Khổng tử chỉ khuyên dạy con người nên cố gắng học tập tốt để phục vụ xã hội được an vui chứ chưa hề bắt phải thành thánh nhân.
Tôi nghĩ rằng các vị vua và quân tử đời sau kính tuân theo lễ nhạc của các tiên vương mà thực hành không dám làm trái lại. Chế độ bao gồm lễ nhạc, luật pháp, chính sách (lễ nhạc hình chính) là đạo mà các tiên vương đã áp dụng để an dân, và (tác dụng, hiệu quả này) được gọi là nhân仁. Các vị vua và quân tử đời sau thuận theo nội dung dạy lễ nhạc của các tiên vương thì có thể trở thành người nhân (nhân nhân). Điều này có nghĩa là, bằng việc học tập không thể trở thành thánh nhân nhưng có thể trở thành người có đức nhân. Mặc dù Khổng tử dạy đức nhân cho người đời nhưng chưa hề bắt ép con người phải trở thành thánh nhân là bởi lý do này. (Thật vậy! Đọc sách Luận Ngữ, chúng ta có thể thấy Khổng tử chưa bao giờ dạy hay khuyên các đệ tử phải trở thành thánh nhân). Nói chung, người đời sau tin tưởng vào Tử Tư, Mạnh tử, Trình tử, Chu tử hơn các tiên vương và Khổng tử, thật là sai lầm!
Tóm tắt ý quan trọng
-Ở cổ đại không có chủ trương: Học có thể thành thánh nhân
– Tiêu chuẩn ở cổ đại để gọi thánh là việc chế định ra lễ nhạc. Thánh chỉ là 1 trong nhiều thứ đức của các tiên vương. Thánh đứng thứ 3 của 6 đức trong lễ đời nhà Chu: trí, nhân, thánh, nghĩa, trung, hòa.
– Tiêu chuẩn gọi thánh của Tử Tư là thành誠, của Mạnh tử là “Không làm điều bất nghĩa và không giết người vô tội để có thiên hạ” và theo Sorai đó chỉ là tiêu chuẩn của đức nhân.
– Đạo Khổng là chế độ bao gồm lễ nhạc, luật pháp, chính sách (lễ nhạc hình chính) là đạo mà các tiên vương đã áp dụng để an dân và được gọi là đạo của đức nhân.
– Khổng tử chỉ khuyên dạy con người nên cố gắng học tập tốt để phục vụ xã hội được an vui chứ chưa hề bắt phải thành thánh nhân.
– Nói chung, người đời sau tin tưởng vào Tử Tư, Mạnh tử, Trình tử, Chu tử hơn các tiên vương và Khổng tử, thật là sai lầm!
Nguyễn Sơn Hùng – Dịch xong ngày 21/6/2026
Xem lại và bổ sung ngày 22~23/6/2026
Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng
Nhận xét
- Thiết tưởng phải nói những nhận xét này của Sorai tinh tế và độc đáo.
Nhận xét tổng thể
(1) Trước nay người dịch không nắm được điểm sai lầm chính yếu của Tống Nho là gì! Tuy nhiên, hôm nay sau khi biên dịch xong bài này người viết rất thấm thía và tâm đắc khi dịch câu: “Khổng tử chỉ khuyên dạy con người nên cố gắng học tập tốt để phục vụ xã hội được an vui chứ chưa hề bắt phải thành thánh nhân.” Thêm vào đó, câu sau: “Nói chung, người đời sau tin tưởng vào Tử Tư, Mạnh tử, Trình tử, Chu tử hơn các tiên vương và Khổng tử, thật là sai lầm !” Lại nhớ nhận xét chí lý của Itô Jinsai, đại ý như sau: Con người thường hay quý trọng những gì cao xa khó vói tới hoặc trừu tượng, và xem thường những thứ gần gũi có bên cạnh trong hàng ngày hoặc cụ thể trước mắt.
Tóm lại, sai lầm và khuynh hướng trên không những của Tống Nho mà phải nói là của chung của người đời chúng ta. Thật sự luôn luôn cần nên lưu ý để tránh!
(2) Theo người dịch việc có thể thành thánh nhân hay không, thật sự không quan trọng lắm. Cốt là học thuyết, chủ trương hoặc đạo có đem ích lợi đến cho xã hội con người sống hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng không. Không nên phí nhiều thời giờ vào đề tài này. Tuy nhiên, cảnh tỉnh của Sorai cũng có ích, bởi vì nhờ bài này mà người dịch thức tỉnh được nội dung (1) nói trên, mặc dù đã đọc bài này nhiều lần trước đây. Người dịch cũng ngạc nhiên vì ngay cả Tuân tử cũng chủ trương “học có thể thành thánh nhân”. Tuy nhiên nếu điều này khích lệ người đời cố gắng học tập thì cũng không phải là việc xấu.
(3) Nghĩa của chữ đức徳 là gì? Để giải thích dễ hiểu vào bao quát hết được ý nghĩa của chữ đức thật sự rất khó! Người dịch đã cố gắng nhiều lần nhưng vẫn chưa được! Khi dịch bài này phát hiện ra điều sau: loại của đức và mức quan trọng của các loại đức hình như thay đổi theo thời đại, đương nhiên cũng thay đổi theo học thuyết. Thí dụ, trong thiên Nghiêu Điển của sách Thượng Thư (tức kinh Thư) viết:
直而溫,寬而栗,剛而無虐,簡而無傲。
Trực nhi ôn, khoan nhi lật, cương nhi vô ngược, giản nhi vô ngạo.
Trên là lời của vua Nghiêu, gồm có 3 loại đức.
Nhưng trong thiên Cao Dao Mô cũng của kinh Thư lại viết:
寬而栗,柔而立,愿而恭,亂而敬,擾而毅,直而溫,簡而廉,剛而塞(㥶),彊而義。
Khoan nhi lật, nhu nhi lập, nguyện nhi cung, loạn nhi kính, nhiễu nhi nghị, trực nhi ôn, giản nhi liêm, cương nhi tắc, cường nhi nghĩa.
Trên là lời của ông Cao Dao, bề tôi thời vua Nghiêu và vua Thuấn phụ trách về luật pháp và xét xử tội, gồm có 9 loại đức. Số đức mục tăng lên và nội dung cũng hơi khác đi.
Trong mục Đại Tư Đồ của Địa Quan của Chu Lễ lại viết:
六德,知、仁、聖、義、忠、和
Lục đức: tri, nhân, thánh, nghĩa, trung, hòa.
Nhưng trong mục Cửu Tần của Thiên Quan của Chu Lễ lại viết thêm:
九嬪掌婦學之灋,以教九御婦德、婦言、婦容、婦功,各帥其屬而以時御敍于王所。
Cửu tần chưởng phụ học chi pháp, dĩ giáo cửu ngự phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công, các soái (suất) kỳ thuộc nhi dĩ thời ngự tự ư vương sở.
Người đời sau gọi “phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công” là tứ đứcnên trong đức lại có đức, ngôn(lời nói), dung(hình dạng),công(thành quả của việc làm), trở thành khó hiểu và rối loạn! Ngoài ra còn gọi là tứ hạnh hoặc tứ giáo. Thiết nghĩ từ “tứ giáo” thích hợp hơn để tránh hỗn loạn trong ngôn từ.
(Người dịch chưa hiểu rõ hết ý nghĩa các nội dung trên nên xin sẽ giới thiệu chi tiết hơn trong dịp khác)
Ngay cả trong ngôn ngữ cũng khó! Thí dụ, nghĩa của từ đức tínhlà bản tính tốt, nghĩa là đức=tốt. Thế tại sao lại có từ “ác đức”? Đã là xấu thì sao gọi là đức? Phải suy nghĩ như thế nào mới hợp lý và dễ hiểu?
(4) Trong thiên Nhạc Ký của sách Lễ Ký quả thật có ghi “Chế tác giả vị thánh, thuật giả chi vị minh, minh thánh giả, thuật tác chi vị dã.”Nhưng người dịch có nghi vấn như sau: 1) Chắc gì các vị vua như vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ…đã tự họ đặt ra lễ nhạc? Chẳng phải họ giao cho những nhà chuyên môn đặt ra sao. 2) Ngoài ra, với 1 cá nhân khó đủ tài năng cả 4 lĩnh vực nhạc, lễ, hình, chính hoặc cả lễ và nhạc (bởi vì Sorai thường nhấn mạnh lễ nhạc).3) Ông Quỳ夔, sách Xuân Thu Tả Truyện viết là Hậu Quỳ后夔 rất giỏi về âm nhạc và làm quan phụ trách âm nhạc cũng là bậc thánh sao?
Ghi chú
(1) Khi chú giải câu“Mạnh tử đạo tính thiện” trong chương 1 thiên 5 Đằng Văn Công thượng sách Mạnh Tử, Chu Hy viết “Thánh nhân khả học nhi chí”聖人可学而至 (Bằng việc học có thể thành thánh nhân).
Khi chú giải câu “Ai Công vấn: “Đệ tử thục vi hiếu học?”” (Ai Công hỏi (Khổng tử): “Trong các đệ tử của ngài, ai là người hiếu học?”trong chương 2 thiên 6 Ung Dã sách Luận Ngữ, Chu Hy viết “Trình tử viết, học dĩ chí hồ thánh nhân chi đạo giả” (Trình tử nói: “Học là đạo (con đường, phương pháp) để thành thánh nhân”.
(2) Trong Sư Quái (quẻ Sư) kinh Dịch viết
大君有命、開国承家。小人勿用。
“Đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia. Tiểu nhân vật dụng. ”
Tạm dịch
Vị vua vĩ đại có nhiệm vụ sáng lập triều đại mới và chọn người hiền đức có công lao để bổ nhiệm để con cháu họ thừa kế về sau. Không nên dùng người không hiền đức dù có công lao. Đối với những người này thì chỉ ban thưởng cho họ tiền bạc bổng lộc không nên để họ quản trị quốc gia.
(3) Trong thiên Nhạc Ký sách Lễ Ký viết:
故知禮樂之情者能作,識禮樂之文者能述。作者之謂聖,述者之謂明;明聖者,述作之謂也。
“Cố tri lễ nhạc chi tình giả năng tác, thức lễ nhạc chi văn giả năng thuật. Chế tác giả vị thánh, thuật giả chi vị minh, minh thánh giả, thuật tác chi vị dã.”
Tạm dịch
“Chỉ có người hiểu rõ bản chất (tình情) của lễ nhạc mới có thể chế tác ra phương pháp biểu hiện lễ nhạc, chỉ có người hiểu đầy đủ phương pháp biểu hiện lễ nhạc (văn文) mới có thể tiếp thừa phương pháp biểu hiện lễ nhạc của tiên hiền (người tài đức đi trước) để truyền đạt đúng lại cho đời sau. Người mới chế tác ra lễ nhạc gọi làthánh, người truyền thuật lại đúng lễ nhạc cho đời sau gọi là minh. Minh và thánh lần lược theo thứ tự để chỉ người truyền thuật lại đúng và sáng tác ra lễ nhạc.”
(Biên dịch theo nội dung của Takeuchi Terao, 1910~1982,giáo thụ danh dự của đại học Hokkaidô)
(4) Trong thiên Đại Vũ Mô (được xem là giả tạo) kinh Thư viết:
都,帝德廣運。乃聖乃神,乃武乃文。皇天眷命,奄有四海為天下君。
“Đô, đế đức quảng vận. Nãi thánh nãi thần, nãi vũ nãi văn.Hoàng thiên quyến mệnh, yểm hữu tứ hải vi thiên hạ quân.”
Tạm dịch
“(Ông Bá Íchca ngợi đức của vua Nghiêu): “Ôi, đức của vua lan rộng khắp nơi. Là thánh. là thần,cả võ, cả văn. Trời cao thương yêu ngài nên khiến làm vua thiên hạ bốn biển”.
(5) Trong bài Trường Phát của Thương tụng trong kinh Thi viết:
湯降不遟,聖敬日躋。
“Thang giáng bất trì, thánh kính nhật tê.”
Tạm dịch
“Vua Thang xuất hiện đúng lúc, đức thánh và sự được tôn kính của vua càng ngày càng cao”.
(6) Trong mục Đại Tư Đồ của Địa Quan trong Chu Lễ viết:
以鄉三物教萬民而賓興之:一曰六德,知、仁、聖、義、忠、和;二曰六行,孝、友、睦、姻、任、恤;三曰六藝,禮、樂、射、御、書、數。
“Dĩ hương tam vật giáo vạn dân nhi tân hưng chi: nhất viết lục đức: tri, nhân, thánh, nghĩa, trung, hòa; nhị viết lục hạnh:hiếu, hữu,mục, nhân, nhiệm, tuất; tam viết lục nghệ: lễ, nhạc, xạ, thư, số.”
Tạm dịch
Ở trường dạy học của thôn làng (địa phương) thì dạy dân 3 nội dung giáo dục sau và chọn ra người giỏi để tiến cử lên học ở kinh đô (quốc học) bằng lễ đối đãi khách quý.
Một là 6 thứ đức: trí(kiến thức, sáng suốt, phân biệt được phải trái, đúng sai của sự việc), nhân (lòng thương yêu quý trọng người và vật, tinh thần phục vụ xã hội),thánh (biết quan sát, phán đoán việc tương lai, nhìn xa thấy rộng),nghĩa (làm việc đúng, bênh vực kẻ yếu), trung (hết lòng hết sức với công việc, không dối trá), hòa (không tranh cãi vô ích, biết nhường nhịn, giữ tình đoàn kết).
Hai là 6 thứ hạnh: hiếu, hữu (tình bạn), mục (hòa thuận, thân tình, tin nhau), nhân(cách ứng xử với bên vợ, bên ngoại),nhiệm (cách ứng xử công việc được giao phó), tuất (cứu giúp kẻ yếu, người hoạn nạn).
Ba là 6 thứ kỹ năng:lễ(cách ứng xử với người khác trong cuộc sống), nhạc(âm nhạc, thi ca),xạ(bắn cung),ngự(cách đánh xe, cưởi ngựa),thư(viết chữ, đọc sách), số(tính toán). (Các giải thích không hẳn đúng với ý nghĩa của nguyên văn, người dịch chỉ dựa theo ý nghĩ của cá nhân. Trong tương lai sẽ tìm hiểu cặn kẻ hơn, nhất là quý độc giả nên tham khảo các giải thích nghĩa của chữ hoặc từ quan trọng trong tác phẩm Biện Danh của Ogyu Sorai.)
Nên lưu ý, trong Chu Lễ xem trí, nhân, nghĩa (trong nhân nghĩa lễ trí tín) là đức, và lễ, nhạc là nghệ.
(7) Cách dùng từ “mạc dĩ thượng”莫以尚 có trong chương 6 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ (tuy nhiên, chữ vô được thay bằng mạc, với nghĩa là “không có”):
子曰:我未見好仁者,惡不仁者。好仁者,無以尚之;惡不仁者,其為仁矣,不使不仁者加乎其身。有能一日用其力於仁矣乎?我未見力不足者。蓋有之矣,我未之見也!
Tửviết: “Ngãvịkiếnhiếunhângiả, ố bấtnhângiả. Hiếunhângiả, vôdĩthượng chi. Ố bấtnhângiả, kỳvinhânhỹ, bấtsửbấtnhângiảgiahồkỳthân. Hữunăngnhấtnhậtdụngkỳlực ư nhânhỹhồ?Ngãvịkiếnlựcbấttúcgiả.Cáihữu chi hỹ, ngãvị chi kiếndã.”
Dịch(NguyễnHiếnLê)
Khổngtửnói: “Ta chưathấyaithật ham điềunhânvàaithậtghétđiềubấtnhân, Ngườithật ham điềunhânthìkhôngchođiềugìhơnđiềunhân; ngườithậtghétđiềubấtnhânthìkhilàmđiềunhânkhôngđểchođiềubấtnhânvướngvàomình. Cóaitrọnngàytậnlựclàmđiềunhânchăng? Ta chưathấyaikhôngđủsứclàmđiềunhâncả. Hoặccóchăngmà ta chưathấy.”
(8) Trong chương 20 sách Trung Dung viết:
“誠者,天之道也;誠之者,人之道也。誠者,不勉而中,不思而得,從容中道,聖人也;誠之者,擇善而固執之者也。
“Thànhgiả, thiên chi đạodã; thành chi giả, nhân chi đạodã.Thànhgiả, bấtmiễnnhitrúng; bấttưnhiđắc; thung dung trungđạo; thánhnhândã;thànhchi giả, trạchthiệnnhicốchấp chi giảdã.”
Tạm dịch
“Thành là đạo của trời, làm cho thành là đạo của người.Người thành, không cố gắng mà vẫn trúng, không suy nghĩ mà vẫn được, thong thả thư thái trong đạo; đó là thánh nhân. Để có đượcthành, thì phải chọn điều tốt lành mà nắm chắc lấy.”
Trong chương 31 viết:
唯天下至聖,為能聰明睿知,足以有臨也.
“Duy thiên hạ chí thánh, vi năng thông minh duệtrí, túc dĩ hữu lâm dã.”
Tạm dịch
“Chỉ có thiên hạ chí thánh mới có được thông minh duệ trí đủ để ứng đối sự việc.”
(9)Từ “cách mệnh” có xuất xứ từ kinh Dịch. Trong phần sau Soán truyện của Cách Quái (quẻ Cách) trong kinh Dịch viết:
文明以說,大亨以正,革而當,其悔乃亡。天地革而四時成,湯武革命,順乎天而應乎人,革之時大矣哉!
“Thiên địa cách nhi tứ thời thành, Thang Võ cách mệnh, thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân, cách chi thời đại hỹ tai”.
Tạm dịch
“Trời đất thay đổi nên có 4 mùa. (Tương tự,) cách mệnh của vua Thang và vua Võ (vua Thang nhà Ân thay thế vua Kiệt nhà Hạ, vuaVõ nhà Chu thay thế vua Trụ nhà Ân) thuận với trời và ứng hợp với người, do đó đúng lúc của thay đổi quan trọng thay.”
(Không hiểu tại sao trong Wikisource của Trung quốc giữa 2 chữ thời và đại có thêm chữ nghĩa義, trong khi các phiên bản thường gặp không có)
(10) Trong chương 14 của thiên 4 Công Tôn Sửu hạ viết:
夫天,未欲平治天下也,如欲平治天下,當今之世,舍我其誰也?吾何為不豫哉?
“Phù, thiên vị dục bình trị thiên hạ dã. Như dục bình trị thiên hạ, đương kim chi thế, xả ngã, kỳ thùy dã? Ngô hà vi bất dự tai?”
Tạm dịch
“Nếu như trời muốn thiên hạ được quản trị thái bình thì hiện nay người có thể giúp vua làm được việc này có lẽ chỉ có ta.”
Do đó, Sorai cho rằng Mạnh tử tự cho mình là thánh nhân.
(11) Trong chương 1 của thiên 10 Vạn Chương hạ viết:
孟子曰:伯夷,聖之清者也;伊尹,聖之任者也;柳下惠,聖之和者也;孔子,聖之時者也。
“Mạnh Tử viết: “Bá Di thánh chi thanh giả dã. Y Doãn thánh chi nhiệm giả dã. Liễu Hạ Huệ thánh chi hoà giả dã. Khổng Tử thánh chi thời giả dã.”
Tạm dịch
“Mạnh tử nói:“Bá Di là vị thánh đặc biệt trong sạch liêm khiết trong các thánh nhân. Y Doãn là vị thánh có tinh thần trách nhiệm mạnh mẽ trong các thánh nhân. Liễu Hạ Huệ là vị thánh có tinh thần hài hòa với người đời trong các thánh nhân. Khổng tử là vị thánh không thiên lệch, sống đúng theo những cái chính đáng của đương thời trong các thánh nhân.”
Trong chương 15 thiên 14 Tận Tâm hạ viết:
孟子曰:聖人,百世之師也,伯夷,柳下惠是也。
“Mạnh Tử viết: “Thánh nhân bách thế chi sư dã. Bá Di, Liễu Hạ Huệ thị dã…””
Tạm dịch
“Mạnh tử nói “Thánh nhân là bậc thầy trăm đời (lâu dài) của thiên hạ. Đó là Bá Di, Liễu Hạ Huệ….””
(12) Đọc các chương viết về chí thành (chương 24) hoặc thiên hạ chí thành(chương 22, 23, 31, 32) trong sách Trung Dungchúng ta có thể thấy khuynh hướng này.
(13) Trongchương 2 thiên 3 Công Tôn Sửu thượng viết:
“伯夷,伊尹於孔子,若是班乎?曰:否,自有生民以來,未有孔子也。曰:然則有同與?曰:有,得百里之地而君之,皆能以朝諸侯有天下;行一不義,殺一不辜而得天下,皆不為也。是 則同。
“Bá Di, Y Doãn ư Khổng Tử, nhược thị ban hồ?” Viết: “Phủ. Tự hữu sinh dân dĩ lai, vị hữu Khổng Tử dã”
Viết: “Nhiên, tắc hữu đồng dư?”
Viết: “Hữu. Đắc bách lý chi địa nhi quân chi, giai năng dĩ triều chư hầu, hữu thiên hạ. Hành nhất bất nghĩa, sát nhất bất cô, nhi đắc thiên hạ, giai bất vi dã. Thị tắc đồng.”
Tạm dịch
(Công Tôn Sửu hỏi): “Bá Di, Y Doãn so với Khổng Tử, có ngang hàng không?”
Mạnh tử đáp: “Không. Từ khi con người sinh ra đến nay, chưa có ai như Khổng Tử.”
Công Tôn Sửu hỏi: “Vậy các vị ấy có chỗ giống nhau chăng?”
Mạnh tử đáp: “Có. Nếu được làm vua một khoảnh đất trăm dặm, đều có thể khiến các chư hầu vào chầu, thu phục thiên hạ. Làm một điều bất nghĩa, giết một kẻ vô tội mà được thiên hạ thì đều không làm. Đó là chỗ giống nhau.”
Nguyên văn
先王聡明睿知之徳、稟諸天性。非凡人所能及焉。故古者無学為聖人之説也。蓋先王之徳、兼備衆美、難可得名。而所命為聖者、取諸制作之一端耳。先王開国、制作礼楽。是雖一端、先王之所以為先王、亦唯是耳。若唯以其在己之徳、則無天子之分矣。若以平治天下之仁命之、則後賢王皆爾。制作礼楽、是其大者、故以命先王之徳爾。其実聖亦一徳。如書曰乃聖乃文、詩曰聖敬日躋、及周礼六徳、聖居其三、是豈先王の徳之全哉。然既已以命先王之徳、自此之後、聖人之名、莫以尚焉。
・至於子思推孔子之為聖、而孔子無制作之迹、又極言道率人性、則不得不言聖人可学而至矣。故以誠語聖也。至於孟子勧斉梁王、欲革周命、則不得不以聖人自処矣。以聖人自処、而尭舜文周嫌於不可及矣。故旁引夷恵、皆以為聖人也。子思去孔子不遠。流風未泯。其言猶有顧忌。故其称聖人、有神明不測之意。若孟子即止言行一不義殺一不辜而得天下不為也。是特仁人耳。非聖人也。要之孟子亦去孔子不甚遠。其言猶有斟酌者若此。祇二子急於持論、勇於救時、辞気抑揚之間、古義藉以不伝焉。可嘆哉。
・蓋後王君子、奉先王礼楽而行之、不敢違背。而礼楽刑政、先王以是尽於安天下之道。是所謂仁也。後王君子、亦唯順先王礼楽之教、以得為仁人耳。是聖人不可学而至焉、仁人可学而能焉。孔子教人以仁、未嘗以作聖強之、為是故也。大氐後人信思孟程朱、過於先王孔子。何其謬也。
Âm Hán Việt của nguyên văn
Tiên vương thông minh duệ tri chi đức. Bẩm chư thiên tính. Phi phàm nhân sở năng cập yên. Cố cổ giả vô học vi thánh nhân chi thuyết giả. Cái tiên vương chi đức. Kiêm bị chúng mỹ. Nan khả đắc danh. Nhi sở mệnh vi thánh giả. Thu chư chế tác chi nhất đoan nhĩ. Tiên vương khai quốc. Chế tác lễ nhạc thị tuy nhất đoan. Tiên vương chi sở dĩ vi tiên vương. Diệc duy thị nhĩ. Nhược duy dĩ kỳ tại kỷ chi đức. Tắc vô thiên tử chi phận hỹ. Nhược dĩ bình thiên hạ chi nhân mệnh chi. Tắc hậu hiền vương giai nhĩ. Chế tác lễ nhạc. Thị kỳ đại giả. Cố dĩ mệnh tiên vương chi đức nhĩ. Kỳ thật thánh diệc nhất đức. Như Thư viết Nãi thánh nãi văn. Thi viết Thánh kính nhật tê. Cập Chu lễ lục đức. Thánh cư kỳ tam. Thị khởi tiên vương chi đức chi toàn tai. Nhiên ký dĩ dĩ mệnh tiên vương chi đức. Tự thử chi hậu. Thánh nhân chi danh. Mạc nhĩ thượng yên.
Chí ư Tử Tư thôi Khổng tử chi vi thánh. Nhi Khổng tử vô chế tác chi tích. Hựu ngôn đạo suất nhân tính. Tắc bất đắc bất ngôn thánh nhân khả học nhi chí hỹ. Cố dĩ thành ngữ thánh dã. Chí ư Mạnh tử khuyến Tề Lương vương, dục cách Chu mệnh. Tắc bất đắc bất dĩ thánh nhân tự xử. Dĩ thánh nhân tự xử. Nhi Nghiêu, Thuấn Văn, Chu hiềm ư bất khả cập hỹ. Cố bàng dẫn Di, Huệ giai dĩ vi thánh nhân dã. Tử Tư khứ Khổng tử bất viễn. Lưu phong vị mẫn. Kỳ ngôn do hữu cố kỵ. Cố kỳ xứng thánh nhân. Hữu thần minh bất trắc chi ý. Nhược Mạnh từ tắc chỉ ngôn hành nhất bất nghĩa sát nhất bất cô nhi đắc thiên hạ bất vi dã. Thị đặc nhân nhân nhĩ. Phi thánh nhân đã.Yếu chi Mạnh tử diệc khứKhổng tử bất thậm viễn. Kỳ ngôn do hữu châm chước giả nhược thử. Chi nhị tử cấp ư trì luận. Dũngư cứu thời. Từ khí ức dương chi gian. Cổ nghĩa tịch dĩ bất truyềnyên.Khả thán tai.
Cái hậu vương quân tử. Phụng tiên vương lễ nhạc nhi hành chi. Bất cảm vi bội. Nhi lễ nhạc hình chính.
Tiên vương dĩ thị tân ư an thiên hạ chỉ đạo. Thị sở vị nhân dã. Hậu vương quân tử. Diệc duy thuận tiên vương lễ nhạc chi giáo. Dĩ đắc vị nhân nhân nhĩ. Thị thánh nhân bất khả học nhi chỉ yên. Nhân nhân khả học nhi năng yên. Khổngg tử giáo nhân dĩ nhân. Vị thường dĩ tác thánh cưỡng chi. Vi thị cố dã. Đại để hậu nhân tin Tư, Mạnh, Trình, Chu quá ư tiên vương, Khổng tử. Hà kỳ mậu dã.
Tài liệu tham khảo
- Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
- Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.
