Trang chủ » TRIẾT HỌC NHƯ MỘT ĐỘNG TỪ

TRIẾT HỌC NHƯ MỘT ĐỘNG TỪ

Tháng Chín 2026
H B T N S B C
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

Tìm chuyên mục

Thư viện

Nhân dịp Bùi Văn Nam Sơn bước vào tuổi 80

Nguyễn Trung Lương

Có một phát biểu của Bùi Văn Nam Sơn trong một cuộc đàm thoại trên mạng Youtube làm tôi phải lưu ý: ông hiểu triết học như một động từ. Nghe qua tưởng là một cách chơi chữ nhẹ nhàng nhằm mua vui người nghe, như thường lệ trong văn hóa giải trí ngày nay. Nhưng càng ngẫm càng thấy đó là cả một lập trường,  một lập trường triết học mà tôi muốn chia sẻ, đặc biệt trong bối cảnh tiếp cận triết học tại Việt Nam hôm nay.

Danh từ là cái ta đóng khung, cái ta có.Động từ là cái ta đang làm, đang sống. Sự khác biệt tưởng như thuộc về ngữ pháp ấy, hóa ra lại là một khác biệt về cách ta hình dung chính triết học là gì.

Hình dung thứ nhất – quen thuộc và cũng dễ dãi hơn – xem triết học như một kho tàng danh từ với các hệ thống, các trường phái, các tên tuổi lớn, những mệnh đề có thể trích dẫn, ghi nhớ, đem ra thi cử. Triết học, theo lối này, là một cái gì đó ta có thể sở hữu, giống như sở hữu một tấm bằng hay một bộ sách. Ta học triết,  biết triết, như biết một môn học có nội dung xác định, có đáp án đúng sai.

Hình dung thứ hai thì khác hẳn. Ở đây triết học không phải là cái ta có, mà là cách ta đang đứng trước đời sống-trướccâu hỏi, trước sự bất định, trước chính mình. Nó không phải một nền học  thuật đã hoàn tất, mà là một vận động không ngừng nghỉ: hỏi, hoài nghi, tự vấn, rồi lại hỏi tiếp.

Khổng Tử, một lần đứng bên bờ sông, đã thốt lên: “Thệ giả như tư phù! Bất xả trú dạ” –“Cái trôi qua là như thế này ư, không ngừng nghỉ ngày đêm”. Câu nói ấy tự nó không phải một học thuyết để nắm bắt và đóng khung. Nó là một tiếng thở dài trước dòng chảy — và có lẽ chính vì không thể đóng khung, nó mới thực sự chạm được vào cái mà nó muốn nói tới. Một dòng sông không đứng yên để ta ngắm nghía trọn vẹn; ta chỉ có thể ở trong dòng chảy ấy, cùng chảy với nó. Thế mới có chuyện “tri hành hợp nhất”, một hệ luận mà Vương Dương Minh sau này đã rút triệt để ra từ “thệ giả”của Khổng tử

Triết học, hiểu như một động từ, cũng vậy.

Vậy hình dung thứ hai này là một phản ứng, nhưng phản ứng đối với điều gì?

Trong bối cảnh Việt Nam hiện đại hóa, khi khoa học tự nhiên và phương pháp thực nghiệm được xem gần như là con đường duy nhất, đáng tin cậy nhất tới chân lý, triết học rất dễ rơi vào một áp lực ngầm: phải chứng minh giá trị của mình bằng cách bắt chước chính dáng vẻ của khoa học, trở thành một môn có hệ thống khái niệm rõ ràng, có thể kiểm tra đúng-sai, có thể học thuộc và trả bài nguyên vẹn. Nói triết học là một động từ, vì thế, là một cử chỉ tự vệ: giữ lại cho triết học phần không thể quy về dữ kiện, phần sống, hỏi và tự vấn -phần mà không phòng thí nghiệm nào đo, tính được, nhưng thiếu nó thì cả khoa học lẫn đời sống con người trở nên trơ trọi, mất phương hướng.

Có một cách khác để nhìn thấy chính phản ứng ấy, qua chính hình thức của câu hỏi mà giới trí thức Việt Nam quan tâm  đến triết học từng – và đôi khi vẫn còn – tự đặt ra cho mình.

Có hai cách hỏi, nghe qua tưởng giống nhau nhưng thực ra rất khác.

Cách thứ nhất: “Việt Nam có triết học không?” Câu hỏi này ngầm mang theo một cái khuôn có sẵn – thường là khuôn triết học Tây phương, với hệ thống, trường phái, lập luận chặt chẽ kiểu Đức, Pháp hay Anh – rồi đem đời sống tư tưởng Việt Nam ra ướm thử  xem có vừa khuôn hay không. Hỏi kiểu này gần như chắc chắn sẽ dẫn tới suy nghĩ bối rối, tới cảm giác thiếu, cảm giác phải biện minh – vìnó bắt một thứ đang sống động phải tự chứng minh mình có một cái nhãn đã được đóng khung sẵn, từ một nơi khác, xuất xứ từ một truyền thống khác. Đó là câu hỏi về một cái ta có – như hỏi trong túi có bao nhiêu tiền.

Cáchthứ hai: “Diễn ngôn triết học Việt Nam vận hành như thế nào?” Câu này không đi tìm một cái nhãn có sẵn để dán cho vừa. Nó nhìn thẳng vào chính đời sống tư tưởng đang diễn ra -những gì các thế hệ trí thức Việt Nam đã và đang thực sự lo, bận tâm,suy tư, tranh luận, viết, dịch, dạy – rồi hỏi: cái đó vận hành theo quy luật gì, theo nhịp điệu gì của riêng nó? Đây không còn là câu hỏi về một cái đang có sẵn, mà về một cái đang diễn ra – một động từ.

Cũng chính vì thế màn hững hệ thống triết học tự xưng đã nắm trọn chân lý về thiên địa vạn vật nhân sinh – chia sẵn từng tầng, từng quy luật, từng phạm trù, không chừa lại một khoảng trống nào cho câu hỏi – luôn có một sức hấp dẫn quần chúng rất lớn, và  cũng không khó hiểu vì sao. Một hệ thống đã xong xuôi, có đáp án cho mọi sự, cho ta cảm giác an toàn của việc “đã hiểu hết”, đã nắm chân lý gọn trong tay – trong khi một câu hỏi để ngỏ thì luôn đòi ta phải tiếp tục sống trong bất định. Nhưng chính cái vẻ hấp dẫn ấy lại là dấu hiệu đáng ngờ nhất mà người yêu minh triết phải thốt ra: “Triết học ơi ! Mi còn sống không ?” Một tư tưởng thực sự sống động không bao giờ khép lại vừa vặn như thế. Nó luôn còn chỗ hở, còn chỗ cho dòng chảy đi tiếp.

Và đâychính là chỗ tôi muốn nói về Bùi văn Nam Sợn

Cả một đời dịch Kant, Hegel, Husserl, Heidegger sang tiếng Việt của ông , nhìn kỹ, không phải là nỗ lực đi xin cho triết học Việt Nam một tấm giấy chứng nhận “đủ tư cách” theo khuôn của ai khác. Nó là hành động ngược lại hoàn toàn: cứ dịch, cứ viết, cứ suy tư – và trong chính việc “làm“ không ngừng nghỉ ấy, câu hỏi “có hay không có triết học“ tự nó trở nên thừa thãi. Người ta không cần tranh luận xem một dòng sông có “đủ tư cách” là nước chảy hay không. Người ta chỉ cần cảm nhận nó chảy.

Dịch thuật triết học, người ngoài nghề đôi khi hình dung đơn giản: chuyển một nội dung có sẵn từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, như đổ nước từ bình này sang bình kia – nội dung không đổi, chỉ đổi cái vỏ chứa. Nhưng bất cứ ai từng thử dịch một trang Kant hay Heidegger đều biết: không có chuyện đó. Mỗi lần dịch một khái niệm như Dasein, như Vernunft, như Sittlichkeit,  người dịch buộc phải nghĩ lại từ đầu, bằng và trong một ngôn ngữ mang theo một truyền thống tư duy hoàn toàn khác – tiếng Việt, với tất cả tầng lớp Nho, Phật, Lão âm ỉ bên trong nó. Không có bản dịch nào là trung tính. Mỗi bản dịch là một lần tư duy triết học phải tự tái tạo chính mình trên một mảnh đất mới và đồng thời khai mở biên độ ngôn ngữ. Kant gọi đấy là phán đoán  phản tư, một phán đoán phi tiền lệ; Arendt gọi là phán đoán không có chỗ vịn, một phán đoán chủ quan nhưng có hiệu lực phổ quát và nó đòi hỏi lòng chân thành (Principle of Charity) và sự dấn thân.

Nói cách khác: Bùi văn Nam Sơn đã sống theo cái mệnh đề “triết học là một động từ” từ rất lâu trước khi phát biểu nó thành lời. Suốt mấy chục năm, ông không đứng bên ngoài triết học như một đối tượng có  khoảng cách với thái độ bàng quan của Chu Hy với “thệ giả“, mà đứng trong nó, chảy cùng nó – mỗi trang dịch là một lần dòng chảy ấy lại đi qua, không lặp lại y hệt lần trước, dù vẫn là cùng một dòng sông.

Tôi muốn khép bài viết này lại đúng nơi nó bắt đầu – bên bờ sông ấy.

Một động từ, giống một dòng sông, không bao giờ ngừng lại để được nắm bắt trọn vẹn một lần và mãi mãi. Có lẽ chính vì thế mà nó đáng để ta sống cùng suốt một đời — không phải vì nó dễ nắm bắt, mà vì nó không ngừng đòi ta phải quay lại, phải hỏi lại, phải dịch lại, phải sống lại.

Chúc mừng Bùi văn Nam Sơn nhân dịp sinh nhật lần thứ tám mươi và tôi muốn cùng chia sẻ rằng triết học, với  nghĩa dấn thân trong tinh thần tri hành hợp nhất , không bao giờ là một dòng sông đã cạn.

Senigallia (Ý), tháng 9, 2026

Nguyễn Trung Lương

*Suốt sáu bảy năm trời, kể từ năm 1970 Bùi văn Nam Sơn và người viết bài này thường xuyên ngồi  chung bàn tại nhà ăn sinh viên đại học Frankfurt, xóm Bockenheim: ăn trưa (dở lắm), uống cà phê, hút thuốc triển miên, nói chuyện lung tung ngoại trừ  triết học và chính trị!