Trang chủ » TỪ NGUYÊN CỦA TỪ “TIẾN SĨ”

TỪ NGUYÊN CỦA TỪ “TIẾN SĨ”

Tháng Tư 2026
H B T N S B C
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

Tìm chuyên mục

Thư viện

và TÊN GỌI CỦA TRƯỜNG HỌC Ở CỔ ĐẠI

NguyễnSơnHùng

Lời mở đầu

Sáng nay đọc chương 1 thiên 11 Tiên Tiến trong Luận Ngữ Trưng của Ogyu Sorai, thấy ông căn cứ vào nội dung thiên 5 Vương Chế sách Lễ Ký để giải thích ý nghĩa của 2 từ tiên tiến先進và hậu tiến後進trong chương này.

Người viết rất ngạc nhiên vì trước đó chưa hề đọc qua nội dung mà Sorai đề cập đến. Ngay sau đó tra thử trên Internet tiếng Việt cũng không thấy. Như quý độc giả biết, sách Lễ Ký, chỉ có Nguyễn Tôn Nhan biên dịch chú giải sang tiếng Việt và được nhà xuất bản Văn Học phát hành vào năm 1999. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là Nguyễn Tôn Nhan chỉ biên dịch chú giải phần nhỏ của sách Lễ Ký. Cụ thể về thiên Vương Chế, theo phân đoạn của giáo thụ Takeuchi Terao khi biên dịch sang tiếng Nhật, thiên này gồm có 36 đoạn. Nguyễn Tôn Nhan chỉ có biên dịch chú giải đoạn 1 và đoạn 8 của thiên. Phần Sorai trích dẫn nói trên nằm trong đoạn 2223. Do đó, không lấy làm lạ người Việt ngày nay ít biết nội dung nói về từ tiến sĩ trong sách Lễ Ký.

Người viết nghĩ rằng đây có thể là ý nghĩa đầu tiên và xuất xứ của từ tiến sĩ mà cổ đại dùng, nếu không như vậy thì cũng được dùng từ đời Tiền Hán (thời kinh Lễ được phục hồi lại sau chính sách đốt sách của nhà Tần), và có thể đây là xuất xứ hoặc từ nguyên của từ tiến sĩ.

Nội dung trích dẫn của Sorai, ngoài từ tiến sĩ 進士còn có đề cập đến nhiều từ khác tú sĩ秀士, tuyển sĩ選士, tuấn sĩ俊士,tư đồ司徒, học学, tạo sĩ造士, tư mã司馬, tước爵, lộc禄. Do đó, người viết xin biên dịch ra để giới thiệu quý độc giả với mong ước để quý độc giả có thể biết người xưa đã dùng các từ trên với ý nghĩa như thế nào.

Cũng nhân cơ hội này, người viết cũng giới thiệu các tên gọi của trường họccổ đại và lý do tại sao chữ học学trong chương Vương Chế được hiểu là quốc học của đời sau.

Phàm lệ

  • Chữ khổ nhỏ trong ( ) là phần giải thích nghĩa từ Hán Việt hoặc là phần của người viết thêm vào cho dễ hiểu mà không có trong nguyên văn. Bởi vì Hán văn thường rất ngắn gọn, cô động khó hiểu.
  •  Tựa của các mục là do người viết đặt ra.

Xuất xứ của từ tiến sĩ

Trước hết Sorai giới thiệu nội dung chú giải 2 từ trên của Khổng An Quốc: “Tiên tiếnhậu tiến là để gọi các người (nhóm) làm quan (仕) đời trước (tiền bối) và nhóm làm quan đời sau (hậu bối)”. Sorai lại cho biết Chu Hy khi chú giải chương trên đã lọc bỏ chữ (làm quan). Sorai cho rằng việc lọc bỏ này là sai lầm.

Kế đến, Sorai cho rằng tiến進ở trong chương trên là tiến進 trong từ tiến sĩ進士. Và Sorai đã dẫn chứng phần liên quan của 2 đoạn trong thiên Vương Chế của Lễ Ký như sau:

“(Phần đầu của đoạn 22) (Quantưđồ) ra lệnh cho các hương郷(trưởng làng xã), (từ những người có học) kén chọn (luận論) ra các秀士(: trội hơn, : người có học) để tiến cử(thăng昇) để làm quan tư đồ司徒. Các người được chọn gọi là TUYỂN SĨ選士. Trong nhóm tuyển sĩ lại kén chọn ra giả秀者 (giả: người) để tiến cử (thăng) lên HỌC学(tứcquốc học国学, trường học ở kinh đô) (b). Các người được chọn gọi là TUẤN SĨ俊士. Người được tiến cử(thăng) để làmtư đồ(tức tuyển sĩ) được miễn lao dịch (phục vụ việc công) ở hương (làng xã). Người được được tiến cử (thăng) lên học (quốc học)(tức tuấn sĩ) được miễn làm quan tư đồ.Tuyển sĩtuấn sĩ được gọi là TẠO SĨ造士(1).

(Phần đầu đoạn 23) Đại Nhạc Chính(2) (giảng dạy các tuấn sĩquốc học và)tuyển chọn người giỏi trội (tú giả) để báo cáo lên vua và tiến cử(thăng) các người này lên làm quan tư mã司馬. Các người được tuyển chọn gọi là TIẾN SĨ進士.

Các quan tư mã phân tích xem xét khả năng luận sự việc, khả năng quản lý để định bộ môn làm quan thích hợp của các tiến sĩ và tuyển chọn hiền giả賢者(hiền: tài đức hơn người) để báo cáo lên vua để quyết định kết quả tuyển chọn. Sau đó bổ nhiệm làm quan, sau bổ nhiệm làm quan xong sẽ định tước爵(chức quan) và vị位(cấp bậc), sau đó cấp lộc祿 (lương) (tức bổng lộc俸祿).”

Kế đến Sorai giải thích “Đây là việc tiến cử các người có học (士) ở hương đảng (làng xã) ra làm quan, và việc làm này gọi là tiến進. Như thế làm sao có thể lọc bỏ chữ仕 (làm quan) được! (ý trách Chu tử chú giải sai.)”

Tên gọi của trường học ở cổ đại

Trong chương 3 thiên 5 Đằng Văn Công thượng sách Mạnh Tử, khi Đằng Văn Công hỏi Mạnh tử nên quản trị quốc gia như thế nào, ngoài chính sách ruộng đất, thuế má, Mạnh tử nhấn mạnh về sự quan trọng của việc giáo dục dân chúng. Phần nói về việc xây dựng trường học, Mạnh tử nói như sau:

“Ngoài việc làm sinh hoạt của dân chúng được ổn định cần phải để sức vào việc giáo dục. Nghĩa là cần phải xây dựng tường庠,tự序,học学, hiệu校để mở rộng phạm vi giáo dục dân chúng.

Tường庠 có nghĩa là dưỡng養(nuôi) (xuất xứ từ việc nuôi dưỡng và kính trọng người lớn tuổi).Hiệu校có nghĩa làgiáo教 (dạy dỗ) (xuất xứ từ việchướng dẫn, dạy dỗ con em).Tự序có nghĩa là xạ射(bắn cung).

Thời nhà Hạ gọi trường học là hiệu, thời nhà Ân gọi tự, thời nhà Chu gọi hiệu. (Ba loại trường học trên là ở địa phương). Học学 là tên gọi chung của Hạ, Ân và Chu (để chỉ trường học ở kinh đô) (tức trường quốc học).

Ghi chú

  • Ở Nhật Bản vào năm 1773, phiên chủ của phiên Satsuma đã lập trường học đặt tên là Tạo Sĩ Quán để đào tạo nhân tài cho phiên. Tên trường này có lẽ căn cứ vào nội dung trong thiên Vương Chế này chăng.
  • Nhạc Chính楽正là trưởng quan (quan đứng đầu) về âm nhạc, là hiệu trưởng của trường quốc học. Nếu trường hợp có phó hiệu trưởng thì hiệu trưởng gọi là Đại Nhạc Chính, và Tiểu Nhạc Chính là phó hiệu trưởng.

Nhận xét

  • Như vậy tên gọi của những người có học được tuyển chọn ở3 cấp bậc là: tuyển sĩ, tuấn sĩ, và tiến sĩ. Tạo sĩ là gọi chung của tuyển sĩtuấn sĩ.

Tuyển sĩđượclàm quan tư đồ.Tuấn sĩ được học ở quốc học. Tiến sĩ là người được tuyển chọn từ quốc học để làm quan tư mã.

Trong phần giải thích nghĩa của từ vựng Takeuchi Terao có chú thích như sau:

“Tư mã thông thường được hiểu là chức quan phụ trách về việc hành chính của quân sự nhưng ở trong thiên này không giới hạn ở lĩnh vực này mà bao gồm quan chức phụ trách về tước lộc của quan lại.

Theo chú thích của Trịnh Huyền, tiến sĩ là người có tinh thần tích cực học tập và có đủ tư cách nhận được tước lộc. Vào đời Đường được dùng để gọi những người thi đậu.”

  • Trong nội dung trích dẫn của chương Vương Chế không có đề cập đến việc thi cử. Theo Bách Độ Bách Khoa của Trung quốc, từ thời Tùy Đường (581~907) ở Trung Quốc mới có khoa thi Tiếnsĩ. Người thi đậu bộ Lễ gọi là Tiến sĩ xuất thân, và người đậu đứng đầu gọi là Trạng nguyên cập đệ. Từ đời Tống trở về sau thì người đậu Tiến sĩ được trực tiếp bổ nhiệm làm quan. Đến đời nhà Minh thì được phân chia ra lảm 3 giáp. Nhất giápTiến sĩ cập đệ (Trạng nguyên), Nhị giáp Tiến sĩxuất thân, Tam giápĐồng tiến sĩxuất thân. Năm 1904 là kỳ thi Tiến sĩ cuối cùng của Trung quốc.
  • Luận論ở đây có nghĩa “kén chọn”, khác với nghĩa “bàn thảo, nói ra lẽ phải trái” thường gặp. Thăng昇 đây có nghĩa là tiến cử khác với nghĩa “lên chức”! Trong khi trong Nho Lâm Liệt Truyện sách Sử Ký của Tư Mã Thiên lạo dùng tiến 薦cho ý nghĩa tiến cử. Tiếng Hán cổ thật khó!
  • Trong chương 1 thiên 14 Hiến Vấn của Luận Ngữ Trưng, Sorai cho rằng ở cổ đại,tước爵chỉ dùng cho bậc quan đại phu trở lên.Lộc祿cũng chỉ dùng cho bậc quan đại phu trở lên. Lương của bậc thấp hơngọi là cốc穀. Do đó trong chương này khi Nguyên Hiến hỏi trường hợp nào thì gọi xấu hổ, Khổng tử trả lời: “bang vô đạo, cốc; sỉ dã.”邦無道,穀,恥也。

Nguyên văn (Hán Văn)

  • Phần đầu của đoạn 22 thiên Vương Chế sách Lễ Ký:

命鄉,論秀士,昇之司徒,曰選士。司徒論選士之秀者而昇之學,曰俊士。昇於司徒者,不征於鄉;昇於學者,不征於司徒,曰造士。

  •  Phần đầu của đoạn 23 thiên Vương Chếsách Lễ Ký:

大樂正論造士之秀者以告于王,而升諸司馬,曰進士。司馬辨論官材,論進士之賢者以告於王,而定其論。論定然後官之,任官然後爵之,位定然後祿之。

  •  Một phần chương 3 thiên 5 Đằng Văn Công thượng sách Mạnh Tử:

設爲庠序學校。以敎之。庠者養也。校者教也。序者射也。夏曰校。殷曰序。周曰庠。學則三代共之。

Nguyễn Sơn Hùng, Xong ngày 17/4/2026

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng