Biên soạn: Tôn Thất Thông – Hiệu đính: Hoàng Lan Anh
Từ lúc lý thuyết kinh tế của Adam Smith trở thành lý luận nền tảng của kinh tế thị trường, nhất là kể từ đầu thế kỷ XX, khi sự cắt nghĩa và việc áp dụng lý thuyết đó bắt đầu xuất hiện những khác biệt dường như khó đi đến thỏa hiệp, thì khái niệm “bàn tay vô hình” là một trong những khái niệm được bàn cãi nhiều nhất. Sau gần một thế kỷ, bàn tay vô hình đã trở thành một trong những khái niệm quan trọng nhất, và rất nhiều người còn gán cho nó một vai trò hết sức vinh quang: Nó là tư duy cốt lõi của kinh tế thị trường. Điều đó đúng đến mức độ nào? Từ đâu nó được mang một sứ mệnh vinh quang đến thế?
Đối với nhiều người, ý tưởng đầy sức hút về bàn tay vô hình đã biến đổi từ phân tích kinh tế thành một câu chuyện thần thoại. Một nhà sử học tư tưởng thậm chí còn nhìn thấy trong bàn tay vô hình những dấu vết của chủ nghĩa huyền bí Faust. Giống như Mephisto trong tác phẩm của Goethe, bàn tay vô hình triệu hồi
một phần của sức mạnh ấy,
vốn không được hiểu thấu,
Luôn muốn điều ác,
nhưng lại làm nên điều thiện[1].
Nhiều người khác thì lý giải bàn tay vô hình dưới một góc nhìn thực tế hơn. Những đoạn văn của Smith liên quan đến ẩn dụ bàn tay vô hình đều bộc lộ một ý tưởng, mà mọi người đều hiểu như nhau, không thể tranh cãi. Đó là, ẩn dụ này khơi dậy hình ảnh đạo đức xã hội rằng, từ quan tâm thuần tư lợi của cá nhân – ở đây là doanh nhân – hoạt động kinh doanh của họ vẫn vô hình trung mang lại lợi ích cho xã hội. Tuy nhiên, người doanh nhân không hề tính trước hiệu quả đó, lại càng không hề biết mình đã đóng góp bao nhiêu vào lợi ích cộng đồng đó.
Ngoài ý nghĩa này ra, bàn tay vô hình là một ẩn dụ với muôn vàn ý tứ khác nhau, tùy thuộc vào ý định diễn giải của những người nghiên cứu khác nhau, trong những bối cảnh kinh tế xã hội khác nhau. Cách diễn đạt ẩn dụ này của người đời sau có trùng hợp với ý định của Adam Smith lúc đặt bút viết tác phẩm “Phồn vinh” hay không? Hoặc chí ít có phù hợp với tư tưởng thâm sau đằng sau câu chữ của vị triết gia xứ Tô Cách Lan này hay không? Đó là những câu hỏi chúng ta tìm cách trả lời sau đây.
Mức độ phổ biến mà ẩn dụ này có được trong kinh tế học hiện đại là điều thật rõ ràng. Bởi vì ẩn dụ này hoàn toàn phù hợp với các giả định và mô hình thường được trình bày trong sách giáo khoa. Bàn tay vô hình khi đó mô tả cách mà hành động của các cá nhân hướng đến lợi ích bản thân, vô hình trung cũng nâng cao sự thịnh vượng của tất cả mọi người. Từng cá nhân riêng lẻ, nhất là doanh nhân, chỉ cần lo cho chính mình – thí dụ tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh – khi đó tất cả mọi người trong xã hội đều sẽ được hưởng lây[2].
Ngoài ý nghĩa nhất quán ở trên, khái niệm “bàn tay vô hình” của Smith tạo thành một hệ quy chiếu trung tâm cho những tranh luận giữa các sáng kiến quản lý kinh tế quốc gia liên quan phần lớn đến nhu cầu điều tiết thị trường, một bên là xu hướng thả lỏng các lực lượng thị trường tự do trong ý nghĩa “laissez-faire”, và bên kia là sự cần thiết về vai trò điều tiết thị trường của nhà nước để cân bằng tác động của các thành viên kinh tế. Đó là những xu hướng về chính sách kinh tế mà chúng ta đã chứng kiến qua dòng lịch sử hơn hai trăm năm qua. Trước hết là chính sách thả lỏng laissez-fair trong thế kỷ XIX, rồi đến “hai thập niên vàng” của chủ nghĩa tư bản với chính sách can thiệp mạnh mẽ của nhà nước sau Thế chiến II, rồi bước qua giai đoạn “thị trường tự điều tiết” của học thuyết “tân tự do” kể từ thập niên 1970, nơi mà họ từ chối mọi sự can thiệp của nhà nước trong ý định điều tiết thị trường.
Trong suốt nhiều thế kỷ, tác phẩm của Smith đã liên tục được đánh giá lại dưới bóng đen của các sự kiện kinh tế lớn, nói chính xác hơn là các cuộc khủng hoảng lớn: Cả những người ủng hộ lẫn những tiếng nói phê phán đều dựa vào tư tưởng của Smith để biện hộ, để phê phán, để đưa ra những sáng kiến mới. Ngoài hệ quy chiếu quan trọng ở trên, ẩn dụ “bàn tay vô hình” còn được lý giải dưới ánh sáng của những hệ quả quan trọng khác đến từ các tác nhân kinh tế khác nhau.
Dù là một ẩn dụ quan trọng như thế, nhưng có lẽ ít người trong chúng ta biết rằng, các nhà nghiên cứu tác phẩm của Smith hiếm khi tìm thấy một bài bình luận nào trước thế kỷ 20 về ẩn dụ này. Sự quan tâm đến “bàn tay vô hình” dường như chỉ bắt đầu được khơi dậy từ thế kỷ 20, và nhộn nhịp nhất là thời gian sau cuộc Đại suy thoái đầu thập niên 1930, khi vai trò của nhà nước trong chính sách kinh tế trở thành đề tài nổi cộm trong các cuộc thảo luận về việc quản lý kinh tế quốc gia.
Một điều ít ai ngờ tới là, trong suốt cuộc đời sáng tác của Adam Smith, ẩn dụ về bàn tay vô hình chỉ xuất hiện ba lần, ở ba nơi trong các trước tác của Smith, nằm rải rác cách nhau hàng chục năm, và thật đáng ngạc nhiên, chỉ có lần cuối cùng xuất hiện trong tác phẩm “Phồn vinh”, ẩn dụ đó mới có liên quan mật thiết đến các biện giải kinh tế của Smith.
Lần thứ nhất, trong tiểu luận “Lịch sử thiên văn học” (History of Astronomy, thập niên 1750). Ẩn dụ này chỉ liên quan đến Jupiter và những biến cố liên quan đến thiên nhiên. Nó không dính dáng gì đến biện giải kinh tế, cũng không có ý nghĩa nào về đạo đức và xã hội. Cho nên chúng ta tạm gác qua một bên.
Lần thứ hai, trong tác phẩm kinh điển “Lý thuyết về cảm xúc luân lý” (Theory of Moral Sentiments, năm 1759). Smith viết: “… Người giàu chỉ chọn từ đống tài sản ấy những gì quý giá và dễ chịu nhất. Họ tiêu dùng chẳng hơn người nghèo là bao, và bất chấp tính ích kỷ và lòng tham vốn có của họ, dù họ chỉ hướng tới sự tiện nghi của chính mình, dù mục đích duy nhất mà họ đặt ra từ lao động của hàng ngàn người do họ thuê mướn chỉ là sự thỏa mãn những ham muốn hão huyền và vô độ của bản thân, họ vẫn [vô tình] chia sẻ với người nghèo thành quả của mọi cải tiến của mình. Họ được dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình để thực hiện sự phân phối các nhu yếu phẩm của cuộc sống gần giống như sự phân phối lẽ ra đã được thực hiện, nếu trái đất được chia thành các phần bằng nhau cho tất cả cư dân của nó, và do đó, mà không hề có ý định đó, cũng không hề hay biết điều đó, họ vẫn thúc đẩy lợi ích của xã hội và cung cấp phương tiện cho sự sinh sôi nảy nở của loài người[3]”. Ẩn dụ “bàn tay vô hình” lần này mang ý nghĩa xã hội, đạo đức, nhân chủng học và xem ra không liên quan mật thiết đến các biện giải kinh tế của Smith. Cùng lắm là nó có ý nghĩa “tái phân phối thu nhập” một cách vô thức để san sẻ của cải từ người giàu cho người nghèo.
Hai tác phẩm kinh điển của Adam Smith
Lần thứ ba, trong tác phẩm “Phồn vinh của các quốc gia” (Wealth of Nations, năm 1776). Trong tác phẩm đó, khi bàn về vai trò của doanh nhân trong việc đầu tư ở nội địa hay ở ngoại quốc, Adam Smith viết: “Mỗi doanh nhân đều nỗ lực hết sức để làm cho doanh thu hàng năm của họ cao nhất có thể. Quả thực, anh ta thường không có ý định thúc đẩy lợi ích công cộng, cũng chẳng biết mình đang thúc đẩy nó đến mức độ nào. Bằng cách ưu tiên hỗ trợ ngành công nghiệp trong nước hơn là nước ngoài, anh ta chỉ nhắm đến sự an toàn của chính mình; và bằng cách hướng dẫn ngành công nghiệp đó sao cho sản phẩm đạt giá trị lớn nhất, anh ta chỉ nhắm đến lợi ích của chính mình; và trong việc này, cũng như trong nhiều trường hợp khác, anh ta được dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình nhằm thúc đẩy một mục đích vốn không nằm trong ý định của mình. Cũng không hẳn là tồi tệ cho xã hội khi mục đích đó không nằm trong ý định của anh ta. Bằng cách theo đuổi lợi ích của riêng mình, anh ta thường vô tình thúc đẩy lợi ích của xã hội một cách hiệu quả hơn là khi anh ta thực sự có ý định thúc đẩy nó[4]”.
Ý tứ sâu xa của Smith trong đoạn văn kể trên được thể hiện tương đối rõ ràng trong vài dòng đầu tiên: “Mỗi doanh nhân đều nỗ lực hết sức để làm cho doanh thu hàng năm của họ cao nhất có thể. Quả thực, anh ta thường không có ý định thúc đẩy lợi ích công cộng, cũng chẳng biết mình đang thúc đẩy nó đến mức độ nào”, bất kể đó là quyết định đầu tư sản xuất ở nội địa, hay bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào khác để phục vụ nhu cầu thị trường. Tất cả chỉ có một mục tiêu quan trọng, là phục vụ cho lợi ích kinh doanh của chính doanh nhân đó.
Tuy nhiên, chỉ với mục đích ban đầu là phục vụ cho tư lợi, người doanh nhân đã vô tình tạo ra những phúc lợi cộng đồng hết sức vĩ đại, mà không một nhà nước nào có đủ nguồn lực để làm thay. Smith muốn chứng minh rằng các chủ sở hữu tư bản, khi được tự do hành động, sẽ vô tình thúc đẩy lợi ích công cộng bằng cách theo đuổi các lợi ích riêng tư của chính họ. Nhưng chính xác thì “lợi ích công cộng” là gì? Smith không thực sự rõ ràng về điểm này. Trong những phát biểu rõ ràng nhất của mình, lợi ích công cộng được đồng nhất với việc tối đa hóa “doanh thu hàng năm của xã hội”. Nhưng ở những đoạn khác trong tác phẩm “Phồn vinh”, lợi ích công cộng lại được trình bày như một thuật ngữ đồng nghĩa với “nền công nghiệp chung của xã hội” hoặc thậm chí là “công ăn việc làm”. Chính định nghĩa sau này mới chi phối các cuộc thảo luận của Smith về bàn tay vô hình. Do đó, ông muốn cho thấy rằng các quyết định có động cơ tư lợi liên quan đến việc sử dụng tư bản tư nhân sẽ tối đa hóa nền công nghiệp chung hoặc công ăn việc làm của một quốc gia[5].
Bổ sung cho Smith, chúng ta trong thế kỷ XXI nghĩ gì về “lợi ích công cộng” hết sức vĩ đại mà doanh nhân mang lại, mặc dù trước đó anh ta chỉ nghĩ đến tư lợi? Đó là, anh ta phải dùng tiền bạc của cải cá nhân để mạo hiểm đầu tư xây nhà máy, mua trang thiết bị, tức là một loại hiện đại hóa xã hội; rồi anh ta phải thuê mướn nhân công, tức là tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp; rồi phải trả lương, đóng bảo hiểm xã hội, tức là nuôi sống các gia đình công nhân và bảo đảm thu nhập hưu trí cho họ sau này; rồi phải nộp nhiều loại thuế, tức làm giàu cho ngân quỹ quốc gia; rồi anh ta phải thúc đẩy sản xuất để bán được hàng hòng nâng cao lơi nhuận, và như thế vô hình trung lấp đầy các kệ hàng để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ của mọi người trong xã hội.
Adam Smith cũng rất nghi ngờ những người tự cho mình đi làm kinh doanh để phục vụ cho cộng đồng. Doanh nhân không nên tự khoát cho mình vai trò thiện nguyện trong kinh doanh, mà chỉ cần làm sao để tối đa hóa tư lợi, rồi cộng đồng sẽ được hưởng lợi nhờ sự can thiệp của bàn tay vô hình. Smith viết: “Tôi chưa từng thấy nhiều điều tốt đẹp được tạo ra bởi những kẻ ra vẻ buôn bán vì lợi ích công cộng. Thật ra, đó là một sự giả tạo không phổ biến lắm trong giới thương nhân, và chỉ cần vài lời là đủ để khuyên họ từ bỏ điều đó[6]”.
Trong tác phẩm “Lý thuyết”, chúng ta đã xem xét sự đồng cảm như là một căn tính của con người dành cho đồng loại. Dưới ánh sáng của sự đồng cảm, chúng ta có thể diễn giải đoạn văn nổi tiếng nói trên bằng ý nghĩa đạo đức: Trong nỗ lực đạt được các mục tiêu cá nhân và cục bộ của mình, doanh nhân vô tình tìm ra những cách thức để phục vụ cả mục tiêu của những người khác – bất kể trước đó họ có quan tâm đến những người đó hay không. Do đó, với lập luận về bàn tay vô hình, một con đường đã được tìm ra để đạt được mục tiêu cao cả là giúp đỡ người khác, xuất phát từ động cơ vô cùng khiêm tốn là tư lợi. Và bài học đạo đức rút ra từ đó là: Mỗi người chỉ có thể thu được lợi ích bằng cách – trực tiếp hoặc gián tiếp – mang lại lợi ích cho người khác.
Điều phiền toái gây nhiều tranh cãi sau này lại xuất phát từ tư duy mở của Adam Smith. Khi ông viết trong đoạn văn ở trên: “và trong việc này, cũng như trong nhiều trường hợp khác“, Smith đã mở sẵn một cánh cửa cho những luận giải của người đời sau, tùy theo thế đứng, góc nhìn của những người đó. Và tất nhiên, ngẫu hứng của người đời sau có thể đúng nhưng cũng có thể sai; có thể trùng hợp với ý định ban đầu của Smith nhưng cũng có thể không ăn nhập gì với tư duy kinh tế của ông. Chúng ta thử lấy hai thí dụ:
Thí dụ thứ nhất, chúng ta thử xem xét quá trình hình thành giá cả thị trường. Ở trên, chúng ta đã khảo sát sự tương tác tự nhiên giữa cung và cầu để phát sinh giá cả. Không cần phải là kinh tế gia để hiểu rằng, khi giá cả xuống thấp, người ta đổ xô vào mua hàng làm cho thế cung cầu mất cân đối. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, khi số người mua đã tăng cao trong lúc số lượng hàng hóa chưa kịp tăng lên để cung ứng, giá cả sẽ tăng lên, người mua hàng sẽ lại xa lánh. Điều đó làm cho giá thị trường phải giảm xuống để thu hút khách hàng. Như vậy, giá thị trường lên hay xuống chỉ phụ thuộc vào tâm lý người tiêu thụ và số lượng hàng hóa luân lưu trên thị trường. Không ai điều khiển quá trình này, chỉ có tình trạng cung và cầu làm thay đổi giá thị trường lên hay xuống.
Quả thật không có gì sai, nếu ai đó nói rằng, giá cả thị trường không do ai điều khiển, mà là kết quả từ sự lôi kéo của một bàn tay vô hình, căn cứ vào tình trạng biến động về nhu cầu tiêu thụ và năng lực cung cấp sản phẩm, với mục đích sau cùng là đưa giá thị trường vào vị trí cân bằng và phù hợp với mong muốn của giới tiêu thụ. Lý giải về vai trò của bàn tay vô hình xem ra là đúng trong việc điều tiết giá cả thị trường.
Thí dụ thứ hai. Chúng ta thử lý giải một trường hợp quan trọng hơn, có tác dụng lớn hơn đối với nền kinh tế thế giới, đó là câu hỏi: Có phải thị trường có thể tự điều tiết theo tinh thần của bàn tay vô hình? Và thật là bất hạnh, rất nhiều người đã đưa ra đáp án sai đối với câu hỏi này, và hậu quả thật vô cùng bi thảm. Chúng ta thử trở lại khảo sát cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
Trong lúc một số ít chuyên gia có tư duy thực tế, nhưng không có quyền lực lớn để quyết định thì cho rằng, bàn tay vô hình đã đi đến giới hạn của nó khi muốn kiềm giữ thị trường tài chính luôn luôn ở trạng thái cân bằng. Lịch sử cho thấy rằng, nếu không có sự giám sát và can thiệp của nhà nước sau cuộc khủng hoảng năm 2008 đó, thì hậu quả còn thảm khốc hơn những gì chúng ta đã chứng kiến. Sự điều tiết của nhà nước đã giúp cho cuộc khủng hoảng sớm chấm dứt. Ở đây, bàn tay vô hình không có chút sức mạnh nào, và lý luận cho rằng thị trường tài chính có thể tự điều tiết là thiếu cơ sở khoa học.
Ngược với những chuyên gia thực tế đó, cách diễn đạt khác về bàn tay vô hình đã tạo nên một mô hình tư duy vốn dĩ sau này trở thành nền tảng cho chủ nghĩa tự do kinh tế và các giả định của trường phái tân tự do. Nhiều bộ óc vĩ đại của nền kinh tế thế giới nghĩ rằng, thị trường có thể tự điều tiết trong tinh thần của bàn tay vô hình. Thủ tướng Margaret Thatcher đã nghĩ như thế, Tổng thống Ronald Reagan đã ủng hộ tư duy đó. Cả hai đã hướng dẫn hai nền kinh tế lớn đi theo xu hướng tân tự do và mở đường cho cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Giáo sư kinh tế Milton Friedman cũng đã nghĩ như thế và đào tạo hàng nghìn sinh viên đại học Chicago tin vào bàn tay vô hình và học thuyết thị trường tự điều tiết. Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ Alan Greenspan đã tin vào luận điểm như thế từ thập niên 1970, để rồi mãi hơn 30 năm sau mới công khai thừa nhận là mình sai. Thế giới đã chao đảo với cuộc khủng hoảng năm 2008 vì Greenspan đã tin vào bàn tay vô hình để đưa ra chính sách tiền tệ theo tinh thần thị trường tài chính tự điều tiết.
Alan Greenspan (trái) & Milton Friedman (phải)
Alan Greenspan thú nhận như sau trong buổi chất vấn ở hạ viện năm 2009: “Chúng ta có một cơ chế quản lý rủi ro vô cùng tinh vi và một hệ thống giá cả được tính toán trên cơ sở kết hợp kiến thức và kinh nghiệm của các nhà toán học và chuyên gia tài chính. Tuy nhiên, lâu đài tri thức tổng thể đã sụp đổ vào mùa hè năm ngoái”.
Điều đó có nghĩa là gì? Niềm tin huyền bí vào “bàn tay vô hình” đã biến thành khái niệm về một khung chống đỡ tinh thần cho thị trường tự do. Alan Greenspan hiểu bàn tay vô hình từ nhãn quan tân tự do, từ đó đưa ra mô hình thị trường tự điều tiết trong lĩnh vực tài chính toàn cầu. Chính vì thế, mô hình của Greenspan đã dẫn đến khủng hoảng tài chính năm 2008. Mô hình đó đã hoạt động suốt mấy thập niên nhưng cuối cùng cũng tỏ ra là sai và sụp đổ. Từ cách hiểu sai của một lãnh đạo quan trọng như Greenspan, thế giới phải gánh chịu hậu quả vô cùng lớn. Vì thế, năm 2008 cũng chính là thời điểm làm cho chủ nghĩa tân tự do bị đặt lên bàn mổ, và người ta bắt đầu phủ định cách hiểu về bàn tay vô hình của những người có xu hướng như Alan Greenspan.
***
Nói tóm lại, triết gia vĩ đại đáng kính Adam Smith với học thuyết tinh tế của ông về bàn tay vô hình đã bị lợi dụng để chứng minh cho niềm tin rằng, một thị trường tự do hoàn toàn – không bị nhà nước kiểm soát – sẽ làm tăng trưởng sự thịnh vượng của tất cả mọi người. Thế nhưng, qua các tác phẩm của mình, Smith chưa bao giờ bảo vệ quan điểm này. Với ý thức công bằng sắc sảo của mình, Smith có lẽ đã quay lưng lại với những nhà tư tưởng tiên phong của chủ nghĩa tân tự do, những người không ngần ngại diễn giải khái niệm “bàn tay vô hình” là “thị trường tự điều tiết”, hay nói đúng hơn, họ cho rằng cần phải từ chối mọi sự can thiệp của nhà nước để điều tiết các hoạt động trên thị trường. Vì thế, nhiều nền kinh tế đã đi vào đổ vỡ.
Bằng những lý giải sai lệch của nhiều chuyên gia kinh tế tiếng tăm, sự phổ biến của ẩn dụ về bàn tay vô hình khiến cho tư duy của Adam Smith bị thu hẹp lại thành một dạng chủ nghĩa cực đoan thị trường. Khi đó, bàn tay vô hình bỗng trở thành biểu tượng cho việc giải phóng thị trường và tự do cá nhân, đồng thời đẩy lùi vai trò nhà nước, trong trường hợp cực đoan là hạ thấp vai trò của nhà nước xuống thành một nhà nước gác đêm[7] (Nachtwächterstaat).
Sau hơn hai thế kỷ, ẩn dụ nổi tiếng của Adam Smith so sánh hệ thống thị trường với một bàn tay vô hình vẫn tiếp tục truyền tải thông điệp cốt lõi của kinh tế chính trị học. Trên thực tế, sự lạc quan tràn trề của Smith về hiệu quả của hệ thống tự do tự nhiên của ông mang âm hưởng khá hiện đại trong thời đại bãi bỏ quy định (deregulation), thương mại tự do và cải tổ kinh tế. Mặc dù phần lớn công trình kinh tế trong những thập kỷ gần đây đã tập trung vào việc xác định vô số điều kiện cần thiết để đạt được tính tối ưu theo tinh thần Vilfredo Pareto từ sự cân bằng tổng quát, các nhà kinh tế vẫn tiếp tục viện dẫn bàn tay vô hình một cách khá phóng khoáng.
Điều đáng ngạc nhiên là, dù với vai trò rất quan trọng, thuật ngữ “bàn tay vô hình” chỉ xuất hiện vài lần trong các tác phẩm của Adam Smith. Nếu nó xuất hiện ít như vậy, người ta có thể tự hỏi tại sao sau này nó lại nhận được nhiều sự chú ý đến thế. Liệu nó có thực sự đóng vai trò trung tâm trong tư tưởng của Smith hay không? Câu trả lời là: Có, nó hoàn toàn đóng vai trò trung tâm trong tư tưởng của Smith. Mặc dù cụm từ bàn tay vô hình chỉ xuất hiện một vài lần, nhưng lập luận về bàn tay vô hình lại hiện diện xuyên suốt trong tác phẩm “Phồn vinh”của ông.
Robert Boyer, kinh tế gia Pháp, giáo sư đại học EHESC (École des Hautes Études en Sciences Sociales), giáo sư thỉnh giảng ở Đan Mạch, Mexico, Nhật Bản nhận xét: “Bàn tay vô hình tỏ ra là một công cụ lý tưởng trong cuộc đấu tranh chống lại sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Mục đích là để giải phóng khỏi chủ nghĩa bảo hộ. Từ thập niên 1950 và cao điểm là từ thập niên 1970, khái niệm này được hồi sinh như một luận cứ chống lại nhà nước phúc lợi và chế độ thuế má lũy tiến sau khi Thế chiến II chấm dứt. Các thành viên kinh tế phải tự tổ chức lại với nhau, có nghĩa là hồi sinh một truyền thống vốn dĩ không có vai trò quan trọng trong thế kỷ 19. Đó là sự tái khởi động một truyền thống với mục đích tạo ảnh hưởng lên chính sách kinh tế hiện đại[8]”.
Vài dòng kết luận: Dù bàn tay vô hình đã trở thành cốt lõi của tư duy kinh tế thị trường, cách diễn đạt và nhất là ứng dụng nó trong kinh tế thì lại rất khác nhau. Cuộc tranh luận kéo dài minh họa cho thấy sự căng thẳng giữa các lực lượng thị trường và chính sách ổn định phức tạp và năng động đến mức nào. Không riêng gì những người bắt đầu học kinh tế, mà cả những bộ óc kinh tế vĩ đại nhất cũng có lúc diễn đạt và áp dụng sai. Cho nên, khi đứng trước một diễn giải nào đó về bàn tay vô hình, độc giả nên xem đó như một ý kiến đề nghị, có thể đúng nhưng cũng có thể sai. Căn cứ vào đề nghị đó, mỗi người phải tự chọn cho mình một quyết định phù hợp.
./.
Tôn Thất Thông & Hoàng Lan Anh – Tháng 10/2026
Trở về trang chủ
Xem thêm các bài viết và dịch của Tôn Thất Thông & Hoàng Lan Anh
Tài liệu tham khảo
[1] Xem J. Persky – Retrospectives Adam Smith’s Invisible Hand – Trang 196.
[2] Xem S. Thieme – Mythos Adam Smith.
[3] Xem A. Smith (2) trang 182 – Phần IV Chương I.
[4] Xem A. Smith (1) trang 291-292 – Quyển IV, Chương II.
[5] Xem J. Persky – Retrospectives Adam Smith’s Invisible Hand – Trang 197.
[6] Xem A. Smith (1) trang 292 – Quyển IV, Chương II.
[7] Xem S. Thieme – Mythos Adam Smith.
[8] Xem ARTE.TV – Ilan ZIV: Adam Smith và Phồn vinh các Quốc gia.


