Trang chủ » BIỆN ĐẠO (BÀI 10)

BIỆN ĐẠO (BÀI 10)

Tháng Mười 2026
H B T N S B C
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Tìm chuyên mục

Thư viện

CHỈ QUẢN TRỊ XÃ HỘI THEO LUẬT PHÁP VÀ KHOA CỬ LÀM MẤTƯU ĐIỂM YÊU HÒA BÌNH, TRỌNG GIÁO DỤCVÀ THỰC DỤNG CỦA ĐẠO KHỔNG

Tác giả: Ogyuu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

Từ đời Tần chế độ phong kiến được đổi sang quản lý theo quận huyện và xem trọng luật pháp hơn

Đạo tiên vương là đạo an thiên hạ. Đời sau khi nói đến kinh tế (kinh thế tế dân: quản lý xã hội, cứu giúp dân chúng)(1)không ai không thuật y hệt như vậy. Tuy nhiên vào thời đại sau khi chế độ phong kiến(2), chế độ đã được bắt đầu đời nhà Chu, được thay đổi bằng chế độ quận huyện thì đạo tiên vương trở thành vật trang sức của xã hội. Do đó tên gọi tiên vương là “danh nghĩa để trang sức căn cứ theo kinh sách cho việc quản trị quốc gia của các quan lại”(3) (kinh thuật経術). Thông thường dưới chế độ phong kiến, đối với dân còn nghĩ đến tình nghĩa của quan hệ cha con hoặc thân tộc (4) nhưng khi đổi sang quận huyện thì việc quản lý quốc gia chỉ căn cứ vào luật pháp, nghĩa là rất công bình không có sự lẫn lộn của ơn huệ hoặc yêu thương.

Chế độ thi đậu ra làm quan đưa đến việc xem trọng chi tiết trên giấy mực hơn hiệu quả trong thực tế!

Thêm vào đó, từ đời Tùy chế độ khoa cử (thi đậu ra làm quan) được áp dụng và hưng thịnh đưa đến sự thay đổi lớn trong giới sĩ (giới trí thức). Người học chỉ biết chuyên tâm vào việc học tập và ghi chép những điều học được trong sách vở để viết ra cho rõ ràng dễ hiểu và tường tận đủ chi tiết trên giấy và xem đó là mục tiêu cao nhất để hướng tới. Đối với những người học được sinh ra vào thời đại này, các thói quen (hoặc khuynh hướng) của các pháp gia thấm nhập vào xương tủy họ. Do đó, khi họ nói đến đạo tiên vương hoặc giải thích nội dung các kinh sách, họ chịu ảnh hưởng tư duy hoặc quan niệm của các pháp gia. Trong tình huống như thế thì làm sao họ có thể hiểu thấu đáo được tác dụng thực tế của đạo tiên vương (đạo thuật) (ở cổ đại, từ thuật術 có nghĩa tốt nhưng về saubị hiểu theo nghĩa xấu!). (Bởi vì đạo tiên vương đặt nền tảng trên đạo nuôi dưỡng chứ không phải theo đúng quy định của luật pháp).

Thái độ xem trọng chi tiết trên giấy mực khó nắm bắt được hiệu quả thực tế của đạo Khổng.

Điều mà Tống Nho quý trọng là phải đưa ra tường tận hết những điểm lớn (cương) lẫn cả các hạng mục nhỏ chi tiết (mục), từ các các vấn đề trọng yếu to lớn đến các vấn đề nhỏ chi tiết.Với thái độ, chủ trương như thế thì làm sao có thể trình bày/thực hiện đầy đủ đạo tiên vương(a).

Tóm tắt ý quan trọng

– Nếu chỉ quản lý xã hội theo luật pháp và khoa cử làm mất ưu điểm yêu chuộng hòa bình và quý trọng giáo dục để phát triển (đức nhân) của đạo Khổng.

– Tần Thủy Hoàng đã phế bỏ chế độ phong kiến,chế độ bắt đầu từ nhà Chu, phân chia quốc gia làm quận huyện và chính quyền trung ương phái cử người đến quản trị, không còn được cha truyền con nối.

– Từ đời Tùychế độ khoa cử được bắt đầu, tức chọn người thi đậu để bổ nhiệm làm quan, không còn chế độ tiến cử như trước đó.

– Chế độ khoa cử làm cho người học có khuynh hướng xem trọng chi tiết trên giấy mực.

./.

Nhận xét

(a) Trước hết người dịch không hiểu rõ chữ vi為trong bài Sorai cụ thể muốn nói gì: diễn tả trình bày hay thực hiện? Khả năng nói ý “diễn tả, trình bày” cao.Nhưng nếu như vậy thì ngoài cách nói cả cương (điều trọng yếu lớn) và mục (điều chi tiết nhỏ), còn có cách nào khác sao?

Trong bài kế tiếp, Biện Đạo (11) ông nói: Đối với đạo tiên vương khi thực hiện được điểm (hạng mục) quan trọng thì các chi tiết nhỏ tự nhiên sẽ có được. Và trong Biện Đạo (12), đối với việc tu tập đức, ông cũng nói: tập được nội dung căn bản quan trọng thì các nội dung chi tiết nhỏ khác tự nhiên sẽ có được.

Cả 2 nội dung trên cho thấy ý ông muốn nhấn mạnh nên chú trọng vào nội dung căn bản hơn là quan tâm đến cả chi tiết nhỏ nhặt. Tuy nhiên, nếu trình bày được cả 2, nội dung trọng yếu và chi tiết thì có gì không tốt đâu? Nếu vì các chi tiết nhỏ mà bỏ qua cơ sở căn bản quan trọng hoặc làm không đủ cơ sở căn bản quan trọngthì chắc chắn không nên. Phải chăng ý Sorai là muốn nói điều này?

Mới đầu người dịch không hiểu chữ vi為trong bài Sorai cụ thể muốn nói gì: diễn tả trình bày hay thực hiện? Tuy nhiên sau khi đọc kỹ Biện Đạo (11) kế tiếp, người dịch tin rằng vi為ở đây có nghĩa là thực hiện.

Nhận xét tổng thể

(1) Người dịch rất ngạc nhiên khi đọc “Kono kuni no katachi” (quyển 1) (Hình dạng của đất nước này) của Shiba Ryôtarô, trong bài đầu tiên tựa “Kono kuni no katachi”, ông viết Nhật Bản đã không dùng chế độ hoạn quan và khoa cử. Tuy nhiên, người dịch có đọc qua tài liệu cho biết vào thời Nara (710~794) Nhật Bản cũng đã có chế độ khoa cử. Không hiểu tại sao Shiba Ryôtarô khẳng định là không. Tuy nhiên, do ảnh hưởng mạnh của giới quý tộc, chế độ khoa cử Nhật Bản không thịnh hành và không được xem trọng. Người dịch khi tìm hiểu về Ôkuma Shigenobu có đọc tài liệu nói ông đã viết thư mời Shibusawa Eiichi ra phụ trách việc công.Do đó việc kêu gọi hoặc mời người tài ra làm quan là có ở Nhật Bản. Đặc biệt có lẽ phương cách này thịnh hành vào thời Minh Trị Duy Tân, và đây là một yếu tố quan trọng đưa đến sự thành công của cuộc duy tân này. Tuy nhiên đây chỉ là suy đoán của người dịch, cần xem xét nghiên cứu kỹ hơn.

Ghi chú

(1) Cao đệ của Ogyuu Sorai là Dazai Shundai có viết tác phẩm Kinh Tế Lục gồm có 10 quyền. Mục lục như sau: Kinh Tế Tổng Luận (quyển 1), Lễ Nhạc (quyển 2), Quan Chức (quyển 3), Thiên Văn- Địa Lý- Luật Lịch (quyển 4), Thực Hóa 食貨(thực phẩm và tiền tệ = kinh tế) (quyển 5), Tế Tự – Học Chính- Chương Phục 章服(quyển 6), Nghi Trượng儀仗(các vũ khí và dụng cụ dùng trong nghi lễ) – Lỗ Bạ鹵簿(quy định cho quân cảnh vệ dùng cho hoàng tộc từ hoàng hậu trở xuống khi tuần hành ở ngoài hoàng cung)- Võ Bị(quyển 7), Pháp Lệnh – Hình Phạt (quyển 8), Chế Độ (quyển 9), Vô Vi – Dịch Đạo 易道(quyển 10). Hiện nay còn lưu lại phiên bản in năm 1729(chữ viết tay) và phiên bản 1894 (Minh Trị thứ 27) (chữ in). (Theo Thiều Chửu, lỗ bạ là “nghi vệ của thiên tử”). Nội dung của Kinh Tế Tổng Luận: người quản trị xã hội cần phải có khả năng thực hành và biết 4 yếu tố: đúng lúc (thời時), hợp lý (lý理), đúng chỗ (thế勢), hợp tình (tình情). Phần sau viết về các chính sách cần cải thiện của Mạc phủ căn cứ trên tình hình thực tế của xã hội đương thời bằng cách sử dụng chế độ quan chức chuyên môn, có năng lực, và cấp võ sĩ phải sản xuất để tự sinh kế giảm nhẹ gánh nặng cho Mạc phủ.

(2) Phong kiến là chế độ của nhà Chu: thiên tử ban lãnh địa (đất đai cai quản để có thu nhập qua thu thuế) và được cha truyền con nối. Tần Thủy hoàng bải bỏ chế độ này chia Trung quốc ra làm 36 quận. Quận lại chia ra làm nhiều huyện. Chính quyền trung ương cử phái Quận Thú (còn gọi Thái Thú), Huyện Lệnh để quản trị, và không còn được cha truyền con nối. Thời kỳ đầu của thời Tiền Hán chỉ có phần quản trị trực tiếp của thiên tử thì theo chế độ quận huyện, ngoải ra trở lại chế độ phong kiến. Nhưng sau khi dẹp được loạn 7 nước Ngô- Việt thì hoàn toàn theo chế độ quận huyện (vào khoảng thời Hán Vũ đế).

(3) Kinh thuật経術: lợi dụng học thuyết của sách vở làm đồ trang sức cho công việc quản lý hành chính của quan chức.

Trong Công Tôn Quảng Truyện của sách Sử Ký viết: “Duyến sức dĩ Nho thuật”緣飾以儒術 (Dùng học thuyết của Nho giáo làm vật trang sức).

Trong Tuần Lại Truyện循吏伝của Hán Thư viết: “Dĩ kinh thuật nhuận sức lại sự”以経術潤吏事(Dùng kinh thuật làm trơn tru việc làm của quan chức)

(4) Gia nhân phụ tử 家人父子: cha con của người dân thường. Trong Cao Tổ Kỷ sách Sử Ký viết “Cao tổ ngũ nhật nhất triều Thái công, như gia nhân phụ tử lễ”高祖五日一朝太公、如家人父子礼 (Cao tổ cứ mỗi 5 ngày vào thăm cha ông như theo lễ con đối với cha của người dân thường).

Nguyên văn

先王之道。安天下之道也。後世言経済者。莫不祖述焉。然後世更封建而郡県。而先王之道。為世贅旒。故世之称先王者。逎(遒)所謂以経術縁飾吏治是已。大氐封建之道。其於民猶且有家人父子意。至於郡県。則唯法是仗。截然太公。無復恩愛。加之隋唐後。科挙法興。士習大変。所務紙列。詳備明鬯。是其至者已。士生於其世。法家之習。淪於骨髄。故其談道解経。亦従其中来。是烏知所謂道術者乎。宋儒所貴。綱目悉挙。巨細曲尽。豈足以為先王之道也。

Âm Hán Việt của nguyên văn

Tiên vương chi đạo.An thiên hạ chi đạo dã. Hậu thế ngôn kinh tế giả.Mạc bất tổ thuật yên. Nhiên hậu thế canh phong kiến nhi quận huyện. Nhi tiên vương chi đạo. Vi thế chuế lưu. Cố thế chi xứng tiên vương giả.Tù sở vị dĩ kinh thuật duyên sức lại trị thị dĩ.Đại để phong kiến chi đạo. Kỳ ư dân do thả hữu gia nhân phụ tử ý. Chí ư quận huyện. Tắc duy pháp thị trượng.Tiệt nhiên thái công. Vô phục ân ái. Nhi chi Tùy Đường hậu. Khoa cử pháp hưng. Sĩ tập đại biến.Sở vụ chỉ liệt.Tường bị minh sưởng.Thị kỳ chi giả dĩ.Si sinh ư kỳ thế.Pháp gia chi tục.Luân ư cốt tủy.Cố kỳ đoàn đạo giải kinh.Diệc tùng kỳ trung lai.Thị ô tri sở vị đạo thuật giả hồ.Tống Nho sở quý. Cương mục ô cử. Cự tế khúc tận. Khởi túc dĩ vi tiên vương chi đạo dã.

Tài liệu tham khảo

  • Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyuu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
  •  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyuu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.

Nguyễn Sơn Hùng
Dịch xong ngày 7/8/2026
Xem lại và bổ sung ngày 9/9/2026

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng