CÁCH RÈN LUYỆN ĐỨC: LUYỆN ĐƯỢC ĐIỂM LỚN, CÁC ĐIỂM NHỎ TỰ NHIÊN CÓ ĐƯỢC.
Tác giả: Ogyu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng
Rèn luyện được điểm lớn, các điểm nhỏ tự nhiên sẽ đến!
Có cách làm thực dụng (thuật)(a) để rèn luyện được ĐỨC. Rèn luyện được điểm lớn thì những điểm nhỏ tự nhiên sẽ có được. Học trò của Khổng môn nỗ lực vào việc rèn luyện nhân(1)là vì lý do này.
Bỏ tránh cái xấu ngay từ lúc con người còn bé
Việc từ bỏ điều xấu của bản thân cũng có cách làm thực dụng (thuật). Thí dụ lúc sừng con bò mới bắt mọc ra thì tròng gông gỗ lên sừng để tránh húc người (cốc牿) bị thương. Heo đực nếu thiến thì không còn hung dữ để dùng nanh hại người (2).
Cách làm sai lầm của người đời nay
Bởi vì người đời nay mong muốn có được nhiều cái thiện (tốt) trong một ngày(ý nói muốn nhanh chóng) nên vội vã chụp lấp chúng rồi tự khoe mình có được nhiều cái thiện (3) (b). Tỉ dụ câu chuyện người nắm kéo mạ mới cấy để chúng dài ra vì muốn lúa nhanh chóng cao lớn để thu hoạch (4). Chắc chắn họ không biết rằng nếu biết hướng đến đạo thì đạo tự nhiên dâng trào cuồn cuộn lên trong lòng (du nhiên油然) (5) (c). Ngoài ra việc muốn gột rửa bỏ sạch, rạch mổ, moi móc (quyết抉,dịch剔) (6) (d) ra hết nhiều cái ác (xấu) tiềm ẩn trong bản thân mình trong một ngày thì giống như việc “bới lông tìm vết” (hoặc “vạch lá tìm sâu”). Nói tỉ dụ, việc làm trên giống như việc làm của người thầy thuốc quê mùa (lang băm) trị bệnh. Họ không biết quy luật (nguyên tắc) là các triệu chứng của bệnh xuất hiện từ bản chất (gốc rễ) của căn bệnh (tiêu bản標本)(7), nói chi đến các nguyên lý biến hóa của căn bệnh.
Tóm tắt ý quan trọng
– Cách rèn luyện đức: rèn luyện được điểm lớn, các điểm nhỏ tự nhiên sẽ đến!
– Cách tránh bỏ tật xấu và có được thói quen tốt: tránh bỏ cái xấu và tập quen cái tốt ngay từ lúc con người còn bé.
– Cần kiên nhẫn tiếp tục rèn luyện cho đến lúc có được thành quả: có công mài sắt có ngày nên kim. (Bởi vì rèn tập lâu ngày sẽ trở thành thói quen tốt như được bẩm sinh.)
Nguyễn Sơn Hùng
Dịch xong ngày 20/8/2026
Xem lại và biên soạn ghi chú ngày 22/10/2026
Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng
Nhận xét
(a) Theo Sorai, thuật術có nghĩa là phương pháp thực dụng vốn có nghĩa tốt nhưng vì sau đó thuật được dùng để chỉ các cách làm khéo léo với mục đích dối trá gạt gẫm nên bị hiểu với ý nghĩa xấu. Ngày nay chúng ta thấy được dùng cho cả 2 trường hợp. Nghĩa tốt, thí dụ như kỹ thuật, mỹ thuật…Nghĩa xấu như ma thuật,trá thuật, mưu thuật…
(b) Sorai không giải thích cụ thể tại sao muốn nhanh chóng có nhiều cái tốt là không tốt mà cần phải lâu ngày nên nội dung đoạn này khó hiểu, không có tính thuyết phục! Theo người dịch, bởi vì nhanh chóng có được điều tốt trong thời gian ngắn thì khả năng chưa thành thói quen và sau đó trở lại như cũ. Còn tập luyện lâu ngày, trải qua nhiều khó khăn mới có thể giữ được bền vững lâu ngày về sau. Nói dễ hiểu là khi đã trở thành thói quen tốt thì sẽ giống như bẩm tính trời sinh cho mình và thực hiện một cách tự nhiên trong đời sống hàng ngày. Tỉ dụ người Tống kéo lúa mạ dài ra là cưỡng ép, trên đời này không ai lại làm như vậy! Đó là khuyết điểm thích biện luận muốn nhanh chóng thuyết phục được người của Mạnh tử!
(c) Theo người dịch, trong thực tế không dễ dàng như Sorai nói! Đọc nội dung của Mạnh tử giải thích về cách tập luyện khí hạo nhiên sẽ hiểu cụ thể. Người dịch nghĩ rằng cần phải gìn giữ tập luyện lâu ngày trải qua nhiều khó khăn gian truân mới có được “cuồn cuộn dâng lên trong lòng”!
(d) Cùng từ quyết dịch抉剔Hàn Dũ và Tô Thức dùng với nghĩa tốt đẹp trong khi Sorai dùng với nghĩa xấu!
Nhận xét tổng thể
(1) Đối với việc rèn luyện đức, Sorai cho rằng rèn luyện được đức lớn, các đức nhỏ khác tự nhiên sẽ có được. Ý tưởng này căn cứ vào câu châm ngôn của cổ đại (cổ ngữ) Quân tử vụ bản; bản lập nhi đạo sinh mà Hữu tử dùng trong chương 2thiên 1 Học Nhi sách Luận Ngữ. Nội dung cụ thể Sorai đã giải thích xin xem lại Giải thích của Soraicho chương này trongGhi Chú (1) của Biện Đạo (11).
Vấn đề kế tiếp là làm sao để biết đức nào là đứclớn? Đạo Khổng xem đức nhân = an dân = phục vụ cho xã hội con người được an vui là đức to lớn nhất. Tuy nhiên, đối với bậc lãnh đạo để thực hiện được mục đích an dân cần phải biết nhân tài để sử dụng đúng chỗ. Do đó đức trí = biết người là quan trọng hơn hết. Ngoài 2 đức này, còn đức nào là quan trọng? Hình như Sorai không đề cập trực tiếp cụ thể về vấn đề này. Người dịch nhớ Nakae Tôju, người mà người Nhật xem là bậc thánh nhân của họ, từng nói đạo làm người quan trọng nhất là ái(thương yêu người) và kính(kính trọng người), và ông cũng cho rằng Khổng tử lấy đức hiếu để dạy người là bởi vì khi có được đức hiếu thì có được ái và kính(*). Theo kinh nghiệm của bản thân, người dịch nhận thấy điều này rất đúng. Trong chương 2thiên 1 Học Nhinói trên (bài thứ 2 của sách Luận Ngữ), Hữu tử cũng nói Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư?(Hiếu đễlà cái gốc của đức nhân đấy chăng?). Trong Luận Ngữ Trưng, khi giải thích chương này, Sorai cũng nói: khi có được hiếu đễ thì trung忠, kính敬, hòa和, thuận順 tự nhiên sẽ phát sinh là lý do này. Đây cũng là 1 thí dụ cụ thể của “rèn luyện được đức lớn, các đức nhỏ khác tự nhiên sẽ có được.”
(*) Bài 2 trong Ông Vấn Đáp của Nakae Tôju.
Ghi chú
(1) Xem Ghi chú (4) của Biện Đạo Bài 7.
(2) Trong Hào Từ của quẻ 26 Sơn Thiên Đại Súc của kinh Dịch,Lục Tứ viết: Đồng ngưu chi cốc, nguyên cát童牛之梏, 元吉; Lục Ngũ viết:Phần thỉ chi nha, cát猪豕之牙, 吉.
Tạm dịch
Cái gông gỗ tròng vào sừng trâu (bò) khi còn non (để tránh gây hại cho người): quẻ đại cát (rất tốt); Thiến heo rừng đực để tránh nó hung hăng hại người, quẻ cát (tốt). Cả 2 đều có ý nói ngăn chặn điều xấu hoặc tai họa bằng cách phòng tránh từ lúc chưa xảy ra hoặc từ nguyên nhân gây ra.
(3) Chương 2 thiên 3 Công Tôn Sửu thượng sách Mạnh Tử viết:
敢問夫子惡乎長?曰:我知言,我善養吾浩然之氣。敢問何謂浩然之氣?曰:難言也。其為氣也至大至剛,以直養而無害,則塞于天地之間。其為氣也配義與道,無是餒也。是集義所生者,非義襲而取之也。行有不慊於心則餒矣。我故曰:告子未嘗知義。以其外之也。
“Cảm vấn: Phu tử ô hồ trường?” Viết: “Ngã tri ngôn, ngã thiện dưỡng ngô hạo nhiên chi khí.”
“Cảm vấn: Hà vị hạo nhiên chi khí?”Viết: “Nan ngôn dã. Kỳ vi khí dã, chí đại, chí cương; dĩ trực dưỡng nhi vô hại, tắc tắc vu thiên địa chi gian. Kỳ vi khí dã, phối nghĩa dữ đạo; vô thị, nỗi dã. “Thị tập nghĩa sở sinh giả; phi nghĩa tập nhi thủ chi dã. Hành hữu bất khiểm ư tâm, tắc nỗi hỹ.
Tạm dịch
Công Tôn Sửu hỏi Mạnh tử: “Xin phép thầy được hỏi: Sở trường của thầy là gì?”Mạnh tử đáp: “Ta biết lời của các thánh hiền (tri ngôn) và biết nuôi dưỡng tốt khí hạo nhiên của ta”. Xin phép thầy được hỏi tiếp: Khí hạo nhiên là gì? Mạnh tử đáp: “Khíhạo nhiên không dễ giải thích. Khí này không gì to lớn bằng, không gì cứng mạnh bằng, nếu nuôi dưỡng nó không để bị hư tổn thì nó sẽ chiếm đầy cả trời đất. Khí này được phối hợp bởi nghĩa và đạo, nếu không được nuôi dưỡng bằng đạo và nghĩa nó sẽ hao mòn tiêu mất đi. Nghĩa là, khí này có được nhờtích lũy của nhiều điềunghĩa (việc làm đúngvới đạo tiên vương) của chính bản thân mình chứ không phải bằng một ít điều nghĩa chợt thực hiện ở bên ngoài mà có được (nghĩa là từ đầu có ý định cố gắng thực hiện điều nghĩa và trì chí thực hiện lâu dài). Nếu có hành động gì hổ thẹn với tâm bản thân mình thì khí hạo nhiên hao mòn khô héo đi. (Do đó, chỉ bằng hành vi không làm cho tâm của bản thân mình không bị rối loạn như Cáo tử nói, thì không thể nuôi dưỡng được khí hạo nhiên). Do đó, ta mới nói: Cáo tử chưa thật sự biết nghĩa là gì. Bởi vì Cáo tử cho rằng nghĩakhông có ở trong tâm của bản thân mình mà có ở ngoài tâm của bản thân mình.
(4)Trong chương trên viết tiếp theo:
必有事焉而勿正,心勿忘,勿助長也。無若宋人然。宋人有閔其苗之不長而揠之者,芒芒然歸,謂其人曰:“今日病矣,予助苗長矣。”其子趨而往視之,苗則槁矣。天下之不助苗長者寡矣。以為無益而舍之者,不耘苗者也。助之長者,揠苗者也,非徒無益,而又害之。
“Tất hữu sự yên, nhi vật chính; tâm vật vong, vật trợ trưởng dã. Vô nhược Tống nhân nhiên. Tống nhân hữu mẫn kỳ miêu chi bất trưởng, nhi loát chi giả. Mang mang nhiên qui, vị kỳ nhân viết: ‘Kim nhật bệnh hỹ. Dư trợ miêu trưởng hỹ.’ Kỳ tử xu nhi vãng thị chi. Miêu tắc cảo hỹ. Thiên hạ chi bất trợ miêu trưởng giả quả hỹ. Dĩ vi vô ích nhi xả chi giả, bất vân miêu giả dã. Trợ chi trưởng giả loát miêu giả dã; phi đồ vô ích, nhi hựu hại chi.”
Tạm dịch
(Cũng là lời của Mạnh tử) “Nhất định lúc nào cũng phải nuôi dưỡng khí hạo nhiên. Nhưngkhông được nghĩ đến phải hoàn thành xong vào lúc nào. Mặc dù nói vậy, nhưng bất cứ lúc nào cũng không được quên. Thêm vào đó, không được có ý muốnnhanh chóng nuôi dưỡng khí hạo nhiên. Thí dụ, không được bắt chước như người nước Tống sau đây. Người nước Tống này lo sợ mạ ở ruộng ông không cao lớn nên ông ra ruộng nắm kéo từng cây mạ. Làm xong ông mệt mỏi về nhà nói với người trong gia đình: “Hôm nay ta thật mệt lắm, vì phải kéo từng cây mạ để giúp chúng cao lớn”. Con ông nghe vậy lo lắng, chạy ra ruộng xem sao. Thì thấy mạ đã khô héo! Không ít người trong thiên hạ giúp cho mạ nhanh chóng lớn (tuy nhiên bằng cách khác chứ không phải như cách của người nước Tống nói trên). Việc xem nuôi dưỡng khí hạo nhiên là vô ích nên bỏ qua không màng đến giống như không chịu nhổ cỏ mọc chung quanh mạ (ý phê phán Cáo tử). Còn nếu như muốn nhanh chóng hoàn thành việc nuôi dưỡng khí hạo nhiên thì giống như việc kéo mạ của người nước Tống nói trên, không những vô ích mà có hại.”
(5) Chương 6 thiên 1 Lương Huệ Vương thượng sách Mạnh Tử viết:
孟子見梁襄王。出,語人曰:望之不似人君,就之而不見所畏焉。卒然問曰:“天下惡乎定?”吾對曰:“定于一。”“孰能一之?”對曰:“不嗜殺人者能一之。”“孰能與之?”對曰:“天下莫不與也。王知夫苗乎?七、八月之間旱,則苗槁矣。天油然作云,沛然下雨,則苗浡然興之矣。其如是,孰能御之?今夫天下之人牧,未有不嗜殺人者也;如有不嗜殺人者,則天下之民皆引領而望之矣。誠如是也,民歸之,由水之就下,沛然誰能御之?”
Mạnh Tử kiến Lương Tương Vương. Xuất, ngứ nhân viết: “Vọng chi, bất tự nhân quân; tựu chi, nhi bất kiến sở úy yên. Thốt nhiên vấn viết: Thiên hạ ô hô định? Ngô đối viết: Định vu nhất. – Thục năng nhất chi? Đối viết: Bất thị sát nhân giả năng nhất chi. – Thục năng dữ chi? Đối viết: Thiên hạ mạc bất dữ dã. Vương tri phù miêu hồ?Thất bát nguyệt chi gian hạn, tắc miêu cảo hỹ. Thiên du nhiên tác vân, bái nhiên há vũ, tắc miêu bột nhiên hưng chi hỹ. Kỳ như thị, thục năng ngữ chi? Kim phù thiên hạ chi nhân mục, vị hữu bất thị sát nhân giả dã. Như hữu bất thị sát nhân giả, tắc thiên hạ chi dân giai dẫn lãnh nhi vọng chi hỹ. Thành như thị dã, dân qui chi, do thủy chi tựu hạ. Bái nhiên, thùy năng ngữ chi?”
Tạm dịch
Mạnh tử yết kiến Tương vương (con nối ngôi của Huệ vương) của nước Lương. Khi Mạnh tử ra về nói với 1 người: “Vị vua mới này nhìn từ xa không thể nào biết ông là vua. Lại gần cũng không cảm giác uy nghiêm của ông. Khi gặp ông, thình lình ông hỏi “Thiên hạ sẽ được thống nhất chăng?” Ta mới trả lời “Vào lúc nào đó sẽ được thống nhất.” Vua lại hỏi “Ai sẽ là người thống nhất thiên hạ?” Ta đáp “Vị vua nào chán ghét việc giết người sẽ thống nhất thiên hạ.” Vua lại hỏi “Ai sẽ ủng hộ vị vua như vậy?” Ta đáp “Trong thiên hạ không ai không ủng hộ 1 vị vua như vậy.Vua có biết mạ non không? Vào tháng 7, tháng 8 nếu trời nắng liên tục, mạ non sẽ bắt đầu khô héo. Nhưng nếu vào lúc đó, trời thình lình cuồn cuộn nổi mây lên và đổ mưa ồ ạt xuống thì mạ sẽ nhanh chóng mạnh mẽ ngóc đầu lên. Thế mạnh ngóc đầu lên của mạ non có ai ngăn chặn được. Tương tự như vậy, hiện nay các vị vua (chư hầu) tất cả đều thích gây chiến tranh, người không thích giết người không có một ai. Trong lúc này nếu có 1 vị vua không thích giết người, thực hiện nhân chính (chính trị vì dân, vì người) xuất hiện, thì mọi người dân trong thiên hạ đều ắt sẽ hết lòng ngưỡng mộ. Nếu như vị vua thật sự chân thành vì dân, vì người thì người dân chắc chắn sẽ tâm phục mà quy thuận về ông, giống như nước chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, không ai có thể ngăn cản được.”
Trong thiên Nhạc Ký của sách Lễ Ký viết:
君子曰:禮樂不可斯須去身。致樂以治心,則易直子諒之心油然生矣。易直子諒之心生則樂,樂則安,安則久,久則天,天則神。天則不言而信,神則不怒而威,致樂以治心者也。致禮以治躬則莊敬,莊敬則嚴威。心中斯須不和不樂,而鄙詐之心入之矣。外貌斯須不莊不敬,而易慢之心入之矣。
Quân tử viết: Lễ nhạc bất khả tư tu khứ thân. Trí nhạc dĩ trị tâm, tắc dị trực tử lượng chi tâm du nhiên sinh hỹ. Dị trực tử lượng chi tâm sinh tắc lạc, lạc tắc an, an tắc cửu, cửu tắc thiên, thiên tắc thần. Thần tắc bất ngôn nhi tín, thần tắc bất nội nhi uy, trí nhạc dĩ trị tâm dã. Trí lễ dĩ trị cung tắc trang kính, trang kính tắc nghiêm uy. Tâm trung tư tu bất hòa bất lạc, nhi bỉ trá chi tâm nhập chi hỹ. Ngoại mạo tu tư bất trang bất kính, nhi dị mạn chi tâm nhập chi hỹ.
Tạm dịch
Người quân tử nói:“Dù chỉ trong chốc lát cũng không được rời bỏ lễ và nhạc. Dùng nhạc giữ cho tinh thần (phần bên trong con người) đến mức tối cao thì tinh thần chính trực và thuận lương sẽ tự nhiên cuồn cuộn nổi lên trong con người mình. Khi đạt được mức độ này thì tinh thần sẽ vui vẻ, tinh thần vui vẻ thì tâm sẽ trở nên yên ổn, tâm yên ổn được lâu dài thì hợp với lòng trời, hợp với lòng trời thì sẽ thông đến thần thánh. Người hợp với lòng trời thì dù không nói gì vẫn được người người kính trọng và tin cậy; người thông với thần thánh dù không biểu hiện giận hờn, trách móc cũng được người người kính sợ. Đó là con người sửa trị tinh thần, tâm tình bằng âm nhạc đến mức tối cao.
Dùng lễ sửa trị hành vi cử chỉ của mình (đối với bên ngoài) cho được trang trọng, kính cẩn;khi đã được trang nghiêm, kính cẩn thì sẽ phát sinh ra uy nghiêm.
Dù chỉ trong chốc lát nếu tâm tình, tinh thần mình không thuận hòa, không vui vẻ thì tâm hèn hạ, dối trá sẽ thâm nhập vào con người của mình. Dù chỉ trong chốc lát nếu ngoại mạo tức hành vi cử chỉ. của mình không trang trọng, không kính cẩn thì tâm lười biếng cẩu thả sẽ sẽ thâm nhập vào con người của mình.
(6) Trong phần đầu bài Tiến Học Giải của Hàn Dũ (đời Đường) viết:
國子先生,晨入太學,召諸生立館下,誨之曰:「業精於勤,荒於嬉。行成於思,毀於隨。方今聖賢相逢,治具畢張,拔去兇邪,登崇俊良。占小善者率以錄,名一藝者無不庸,爬羅剔抉,刮垢磨光。蓋有幸而獲選,孰云多而不揚。諸生業患不能精,無患有司之不明,行患不能成,無患有司之不公。」
Quốc tử tiên sinh, thần nhập thái học, triệu chư sinh lập quán hạ, hối chi viết: “Nghiệp tinh ư cần, hoang ư hy. Hành thành ư tư, hủy ưtùy.Phươngkim thánh hiền tương phùng, trị cụ tất trương, bạt khứ hung tà, đăng sùng tuấn lương. Chiếm tiểuthiện giả suất dĩ lục, danh nhất nghệ giả vô bất dung, bà la dịch quyết,quát cấu ma quang.Cái hữu hạnh nhi đoạt tuyển, thục vân đa nhi bất dương. Chư sinh nghiệp hoạn bất năng tinh.Vô hoạn hữu tư chi bất minh, hành hoạn bất năng thành, vô hoạn hữu tư chi bất công”.
Tạm dịch
Sáng sớm thầy dạy trường Quốc học kêu gọi học sinh tập hợp sắp hàng ở trường để huấn thị: “Học nghiệp là do siêng năng học tập mà tinh thần trí óc được tinh nhuệ (tinh sảng, tinh thông, tinh diệu), nếu chỉ vui chơi thì tinh thần sẽ hoang dã như ruộng vườn bị bỏ hoang không được chăm sóc. Việc học thành tựu do sự nhận thức và suy nghĩ (tư), nếu cứ buông thả trôi theo tự nhiên thì con người sẽ trở nên hư hỏng. Nay là cơ hội được gặp mặt thánh hiền, là dịp để hiểu biết về chế độ hành chánh và luật pháp của quốc gia. Là cơ hội để loại bỏ các điều xấu và có được địa vị của con người tốt và ưu tú cũng như được kính trọng. Ngay cả các việc tốt dù nhỏ của các anh cũng sẽ được ghi chép lại, và không có tài nghệ nào, ưu tú mà không được trọng dụng. Người tốt sẽ được tuyển chọn hết không chừa lại một ai và loại bỏ hết đi những người xấu(*), do đó các anh nên chừa bỏ đi các sở đoản và mài giũa sở trường cho sáng chói để phát triển tài đức của bản thân. Ta cho rằng, dù cho có việc được tuyển chọn để trọng dụng nhờ may mắn nhưng làm sao có việc đa tài mà không được tuyển chọn. Chắc chắn không có việc này. Các anh hãy lo học nghiệp của mình không được tinh thông, tinh minh, chớ nên lo các quan chức không có mắt nhìn biết người. Hãy lo tài đức của mình không được thànhtựu, chớ nên lo các quan chức không công bình!”
(Nội dung tiếp theo là có học sinh phản biện lại và vị thầy lại trả lời tiếp.)
(*) Câu bà la dịch quyết爬羅剔抉với ý “tuyển chọn nhân tài để dùng không chừa một ai và loại bỏ người xấu không dùng” cũng có thể hiểu “chọn điều tốt lành mà học tập và loại bỏ các thói xấu, điều xấu”. Câu này được khắc trên bia ở trường Trung học cấp 3 Sumita của tỉnh Iwate, Nhật Bản. Cùng với quát cấu ma quang刮垢磨光 là thành ngữ 4 chữ nói về việc học tập ở Nhật Bản.
Bia viết bà la dịch quyết爬羅剔抉trong trường Trung học cấp 3 Sumita
Trong bài thơ của Tô Thức (tức Tô Đông Pha) gửi cho Lưu Hiếu Thúc (bạn của Tô Thức, chính trị gia) có câu sau:
爾來手實降新書,抉剔根株窮脈縷。
Nhĩ lai thủ thật giáng tân thư, quyết dịch căn chu cùng mạch lũ.
Tạm dịch
Sau đó bạn đã gửi cho tôi sách mới, nội dung đào sâu từ căn bản cho đến cả chi tiết.
(7) Tiêu bản標本: thường được dùng với nghĩa vật dùng làm mẫu nhưng ở đây là từ ngữ y học của Trung Quốc cổ đại, xuất hiện trong phần Linh Xu靈樞kinh sách Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn. Cội nguồn gốc rễ của bệnh gọi là bản, triệu chứng mà bệnh phát sinh từ cội nguồn của bệnh gọi là tiêu. Đó là ý nghĩa của tiêu bản ở đây.
Nguyên văn
修徳有術。立其大者、而小者自至焉。此孔門所以用力於仁也。去悪有術。如童牛之牿、如豶豕之牙。今人則欲一日而衆善傅諸身也、襲而取之、矜以持之。譬諸揠苗。豈知油然以生之道乎。又欲一日而衆慝如澡也、抉而剔之、吹毛求疵。譬諸庸医治疾。豈知標本之道乎。何況化之道乎。
Âm Hán Việt của nguyên văn
Tu đức hữu thuật. Lập kỳ đại giả. Nhi tiểu giả tự chí yên. Thử Khổng môn sở dĩ dụng lực ư nhân dã. Khứ ác hữu thuật. Như đồng ngưu chi cố. Như phần thỉ chi nha. Kim nhân tắc nhất nhật nhi chúng thiện truyền chư thân dã. Tập nhi thu chi. Căng dĩ trì chi. Thí chư yển miêu. Khởi tri du nhiên dĩ sinh chi đạo hồ. Hựu dục nhất nhật nhi chúng thắc như táo dã. Quyết nhi dịch chi. Xuy mao cầu tỳ. Thí chư dung y trị tật. Khởi tri tiêu bản chi đạo hồ. Hà huống hóa chi đạo hồ,
Tài liệu tham khảo
- Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
- Nishida Taichirô hiệu chú (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.
- Takeuchi Terao (1979, 1996): Lễ Ký – Tân Thích Hán Văn Đại Hệ quyển 27, 28, 29, Meijishoin.
- Lý Minh Tuấn (2010): Tứ Thư Bình Giải, Tôn Giáo.
- Nguyễn Hiến Lê (1992 &1995): Khổng Tử & Luận Ngữ, Văn Học.
