Trang chủ » SCHILLER – NHÀ THƠ CỦA TỰ DO

SCHILLER – NHÀ THƠ CỦA TỰ DO

Tháng Mười 2026
H B T N S B C
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Tìm chuyên mục

Thư viện

Ba bài thơ trong tập “Nước Đức Cổ tích Mùa đông”
Tác giả: Hoàng Lan

Ngày 10 tháng 11 năm 1759, Friedrich Schiller sinh ra tại Marbach, thành phố thơ mộng nằm bên bờ sông Neckar, là con trai của sĩ quan Johann Caspar Schiller và Elisabeth Dorothea Kodweiß. Friedrich Schiller được xem là một trong những tác giả quan trọng nhất trong lịch sử văn học Đức. Hàng triệu người vẫn cảm thấy say đắm khi đọc những vần thơ của Schiller. Cả cho đến ngày nay, những cảm xúc dạt dào ấy vẫn không hề phai nhạt.

.

Ngay từ thời đại của mình, vào hậu bán thế kỷ XVIII, Schiller đã được vinh danh là “Shakespeare của nước Đức”. Các tác phẩm của ông đã đi vào lòng người với những câu thơ mượt mà, dễ nhớ và các đoạn đối thoại đầy tính nhân văn. Các vở bi kịch của Schiller thường chất chứa uẩn khúc bi tráng của người tràn đầy lý tưởng cao đẹp chưa được toại nguyện. Schiller để lại cho đời hơn 900 bài thơ, 10 vở kịch dài, 2000 bức thư và rất nhiều bài viết về lịch sử và triết học. Dù đã mất hơn 200 năm, Friedrich Schiller vẫn được xem là thi sĩ cho tự do, và là một trong những thi sĩ Đức quan trọng bậc nhất. Nếu tồn tại một bộ tuyển tập gồm những tác phẩm văn học kinh điển tiêu biểu, thì Friedrich Schiller – người được triết gia và nhà viết tiểu sử Rüdiger Safranski mệnh danh là “Shakespeare của nước Đức” – chắc chắn sẽ có một vị trí trang trọng trong đó.

Vào những năm đầu của cách mạng Pháp, ngay từ những ngày đầu mới được thành lập, Quốc hội Pháp đã trao quyền công dân danh dự cho nhà văn Đức Friedrich Schiller. Văn bản này do chính bộ trưởng tư pháp Georges Danton ký tên. Danton, sinh cùng năm 1759 như Schiller, sau đó đã bị cái gọi là Ủy ban Cứu quốc thuộc Robespierre chém đầu vào thời điểm Schiller nhận được chứng chỉ công nhận công dân danh dự. Năm 1794, khi đầu của Danton rơi xuống, Schiller đang viết bài tiểu luận mang tính bước ngoặt đối với tinh thần Đức “Về nền giáo dục thẩm mỹ của con người” tại Jena. Hai nhà cách mạng với số phận hoàn toàn khác nhau: Danton trở thành nạn nhân của cuộc cách mạng do chính ông góp phần châm ngòi; Schiller là nạn nhân của thể trạng yếu ớt của mình.

Tên tuổi của Schiller gợi lên một cảm giác hấp dẫn lạ kỳ, và người ta cảm thấy rất quen thuộc khi nói đến điều gọi là “huyền thoại Schiller”. Khi nhắc đến tên Schiller, hầu hết mọi người đều biết ông là ai, ngay cả khi khá nhiều người phải thừa nhận rằng họ chưa hề đọc một tác phẩm nào của ông. Phải chăng những quảng trường, đường phố, trường học ngày nay vẫn mang tên ông đã ghi đậm dấu ấn lên ký ức của từng người Đức, từ trẻ đến già? Hầu như ai cũng biết đến điều gọi là “Cổ áo Schiller”, vì đó là biểu tượng của nhà thơ phóng khoáng tự do, người đã rũ bỏ các quy tắc về thời trang và thường mặc áo phanh ngực.

Vào thế kỷ 19, Friedrich Schiller đã trở thành nhà thơ nổi tiếng khắp nước Đức và đối với giới trí thức trên toàn Châu Âu. Những vần thơ và vở kịch của ông được ghi nhớ và trích dẫn ở mọi tầng lớp xã hội, những câu chuyện dễ nhớ về cuộc đời Schiller được truyền tụng rộng rãi; chân dung của ông, đặc biệt là bức tượng bán thân do nhà tạc tượng trứ danh Heinrich Dannecker sáng tác, hiện diện ở khắp mọi nơi. Có lẽ không có một thành phố nào ở Đức mà không có ít nhất một bức tượng của Schiller được trưng bày một nơi nào đó ở trung tâm thành phố, tên đường thì khỏi nói, nó hiện diện trong mọi thành phố, hầu như không có ngoại lệ. Ở Marbach, nơi sinh thành của Schiller, người ta lập cả một viện bảo tàng quốc gia trưng bày di vật liên quan đến Schiller, và họ đặt tên địa danh của mình là “Thành phố Schiller – Marbach” (Schillerstadt – Marbach).

Người ta gán cho Schiller là nhà thơ của chủ nghĩa duy tâm Đức – đó là một huyền thoại được hình thành và vun đắp trong thế kỷ XIX, với những ảnh hưởng còn có thể nhận thấy đến tận sâu trong thế kỷ XX, và không phải lúc nào cũng mang lại thuận lợi cho chính Schiller, người được tôn vinh trong huyền thoại ấy. Chẳng bao lâu sau khi qua đời, nhà thơ đã rơi vào sự săn đón quá mức của các nhà đạo đức luận chính trị và những triết gia có khuynh hướng giáo huấn đạo đức. Chẳng hạn, Wolfgang Menzel, một nhân vật có thể được xem như “giáo hoàng văn học” (Literaturpapst) trong những năm 1820 và 1830 của thế kỷ XIX, đã gọi Schiller là “người vĩ đại nhất trong số các nhà thơ theo chủ nghĩa duy tâm” trong công trình Lịch sử văn học Đức (1828) của mình – một tác phẩm đầu tiên được đông đảo độc giả đón nhận.

Nhận định đó bắt nguồn từ niềm tin vững chắc của Menzel rằng, xét về tư cách con người, Schiller đã tiến rất gần đến một lý tưởng: một nhà thơ trong sạch, đức hạnh, luôn khao khát cải thiện thế giới và mang lại hạnh phúc cho nhân loại; những “lý tưởng (…) là những đứa con của trái tim rực cháy trong ông, đồng thời là những tia sáng tỏa ra từ chính ngọn lửa nội tâm của ông”. Được dẫn dắt bởi những lợi ích đạo đức và dân tộc, Menzel đã đặt uy tín của Schiller trên một nền tảng mà trong những thập niên tiếp theo, vị thế của nhà thơ ngày càng trở nên khó bị thách thức: đó là nền tảng của những quan điểm và lập luận nằm ngoài phạm vi thẩm mỹ. Trên nền tảng ấy, Schiller được trình bày như một con người cao quý và đức hạnh – gần như một đấng tiên tri, một người loan truyền chân lý, một tông đồ của Chúa.

Schiller là người Đức, nhưng ông cũng tự nhận mình là một công dân toàn cầu. Lý tưởng văn hóa và xã hội của ông không hề bị gò bó trong khuôn viên nước Đức, mà luôn luôn vượt ra khỏi biên giới trong không gian rộng lớn châu Âu. Vì Schiller không thể trốn tránh lịch sử, nên ông cần một viễn cảnh mang tính không tưởng. Schiller cho rằng, một thời kỳ chỉ biết đến những góc nhìn cá nhân thu hẹp trong chân trời sống của riêng mình mà không màng đến góc nhìn xã hội; một thời kỳ chỉ lo nghĩ cho lợi ích bản thân mà không giữ trong tầm mắt sự phát triển của toàn thể – một thời kỳ như thế sẽ luôn quay lưng lại với chính những đồng loại của mình.

Nghị sĩ Friedrich Schiller đã từng có bài phát biểu nồng cháy trước quốc hội liên bang. Các nhà bình luận trong nước lẫn nước ngoài đều đặc biệt nhấn mạnh chất lượng hùng biện mạnh mẽ trong bài phát biểu của nghị sĩ trẻ tuổi này, ngọn lửa ngôn từ chưa từng thấy trong quốc hội những năm gần đây, kết hợp các yêu cầu lý luận cao nhất với những ý tưởng rất thực tiễn về việc hiện thực hóa chúng thành một hình thức đầy cảm hứng. “Các chính trị gia có nghĩa vụ phải cởi mở với tương lai, và những ai trốn tránh việc giải thích tương lai thì không có chỗ đứng trong quốc hội”.

Schiller phát biểu hôm đó: “Những rào cản đã bị phá vỡ, những rào cản từng chia cắt các quốc gia và dân tộc trong sự ích kỷ đầy thù hận. Giờ đây, mọi cái đầu tư duy đều được kết nối bởi một sợi dây liên kết mang tính công dân toàn cầu (…). Xã hội các quốc gia châu Âu dường như đã biến thành một gia đình lớn. Những người chung sống dưới một mái nhà có thể ganh ghét lẫn nhau, nhưng hy vọng sẽ không còn xâu xé nhau nữa”. Chúng ta phải lắng nghe thật kỹ: Chỉ có vẻ như chúng ta đã biến thành một gia đình lớn. Và Schiller bày tỏ hy vọng rằng trong tương lai, mọi chuyện sẽ chỉ dừng lại ở những sự ganh ghét thông thường, chứ không còn những màn xâu xé như trong quá khứ. Và thật là kỳ diệu, ước mơ thống nhất châu Âu đã thành hiện thực, đúng 150 năm sau ngày Schiller mất. Đó là Liên hiệp Châu Âu, thể chế được thành lập từ đầu thập niên 1950 và vẫn tồn tại đến bây giờ, sau hơn 70 năm biến động.

Schiller tỏ ra là một nghệ sĩ dấn thân cho các vấn đề xã hội và lịch sử. Ông đã thành công trong việc xây dựng tên tuổi của mình khi – với tư cách là một nhà thơ, nhà viết kịch và sử gia – ông cố gắng biến các tác phẩm của mình thành những bản cáo trạng liên quan đến các vấn đề lịch sử và xã hội châu Âu thế kỷ XVIII. Tác phẩm của Schiller luôn luôn gắn liền với các mối quan tâm hàng đầu của thời đại mình: sự chỉ trích chế độ chuyên chế (Fiesko, Don Karlos), vấn đề bất bình đẳng giai cấp trong xã hội (Âm mưu và tình yêu), sự trỗi dậy của quốc gia tư sản (Lịch sử cuộc ly khai của các tỉnh Nam Hà Lan thống nhất, William Tell), vị trí của phụ nữ trong xã hội (nhiều vai nữ trong các vở kịch, thơ phú).

Tác phẩm đầu tay của Friedrich Schiller, Bọn cướp (Die Räuber), đã gây chấn động dư luận khi được công diễn lần đầu tại Mannheim vào năm 1782, lúc ông vừa mới 23 tuổi. Với vở kịch đó, Schiller nhanh chóng trở thành biểu tượng của trào lưu Bão Táp và Thúc Dục (Sturm-und-Drang), một trào lưu văn học phản kháng có xu hướng cách mạng của văn học Đức thế kỷ 19. Trong vở kịch Bọn Cướp, tinh thần đề cao tự do, chống lại quyền lực của bạo chúa hiển hiện trên sân khấu Mannheim đã trở thành một sự khiêu khích các vương triều, vào thời điểm trước thềm Cách mạng Pháp, lúc mà quyền lực các hệ thống chuyên chế châu Âu đang lung lay trước viễn cảnh cách mạng có thể bất chợt bùng nổ bất cứ lúc nào. Hình tượng khuôn mẫu về người cách mạng với cổ áo sơ mi mở rộng cũng ra đời từ đó. Sau khi vở bi kịch Bọn Cướp được trình chiếu lần đầu ở Mannheim, Schiller rơi vào xung đột với chính quyền Württemberg và buộc phải bỏ trốn rày đây mai đó, Frankfurt, Dresden, Leipzig và sau cùng đến Weimar.

Chủ nghĩa duy tâm của Schiller, quan niệm của ông về “nền giáo dục thẩm mỹ” (ästhetische Erziehung), yêu cầu mang tinh thần khai sáng về “tự do tư tưởng”, cũng như tầm nhìn châu Âu và tinh thần công dân toàn cầu trong quan niệm về tự do chính trị của ông ở buổi đầu thời kỳ hiện đại – tất cả những điều ấy trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Schiller đều mang đến nhiều điểm gợi mở phong phú cho công tác giáo dục chính trị trong một nền dân chủ.

Các vở kịch và bài thơ của Schiller thời trẻ trên thực tế phần lớn là biểu hiện của một “thế giới lý tưởng” được manh nha trong tư tưởng. Tuy nhiên, tác giả chỉ có thể được xem là người theo chủ nghĩa duy tâm ở chừng mực mà, như chính ông từng kể lại, ông đứng trong thế đối lập tuyệt đối với hiện thực mà bản thân chưa từng biết đến. Từ đó, không thể khẳng định Schiller theo bất kỳ hình thức chủ nghĩa duy tâm nào, dù được định nghĩa theo cách nào đi nữa.

Việc vở kịch Âm mưu và tình yêu (Kabale und Liebe, 1784), cũng như hai bài thơ Tinh thần tự do trong đam mê (Freigeisterei der Leidenschaft) và Sự cam chịu (Resignation), có lẽ được sáng tác vào cùng thời kỳ, đã phản ánh khá rõ hiện thực mà Schiller tiếp nhận không chỉ qua văn học, cho thấy rằng những tác phẩm này, nếu có thể được hiểu là “duy tâm”, thì cũng chỉ theo một cách gián tiếp mà thôi: đó là sự khước từ một thế giới đầy rẫy tham nhũng và xa rời lý tưởng Ki-Tô, một thế giới khơi dậy khát vọng hướng tới những điều tốt đẹp hơn, tình yêu đích thực và công lý.

Tuy nhiên, khi ấy Schiller vẫn còn cách rất xa việc xác định cho thi ca một sứ mệnh như ông đã trình bày hơn mười năm sau đó trong tiểu luận Bàn về thơ ngây và thơ trữ tình cảm tính (Über naive und sentimentalische Dichtung, 1795): trong một thời đại đã trở nên “cảm tính” do tiến trình lịch sử, bị chia cắt một cách thiếu tự nhiên, thi ca cần thể hiện khoảng cách giữa hiện thực mà con người trải nghiệm và một lý tưởng được hình dung nằm bên ngoài hiện thực ấy – thông qua giọng điệu bi ai hoặc châm biếm.

Cuộc đời bị gò bó trong kỹ luật doanh trại quân đội lúc mới 15 tuổi, rồi bị truy nã vì lý tưởng cách mạng, lại thêm căn bệnh hiểm nghèo lúc tuổi vừa ngoài 30, những yếu tố đó đã nhào nặn Schiller thành một người bi quan với thời cuộc. Nhưng Schiller không yếm thế. Sau thời kỳ ở Stuttgart và Mannheim, Schiller lần đầu tiên có ý thức muốn sáng tác theo tinh thần “lý tưởng” với vở kịch Don Karlos (1787). Vở bi kịch này cũng may mắn duy trì được sức hấp dẫn đối với công chúng, bởi lời tuyên bố cốt lõi của Hầu tước Posa: “Xin hãy ban cho chúng tôi tự do tư tưởng (…)” luôn được xem là một đòi hỏi có giá trị vượt thời gian. Trong khi đó, lời đáp của nhà vua: “Đúng là một kẻ mộng tưởng kỳ quặc!” thường được hiểu là sự thường xuyên nghi kỵ đối với tất cả mọi người và ý chí thống trị không thể lay chuyển của các vương triều. Điều này vẫn đúng ngay cả khi người ta có thể cảm thấy thương hại vị quân vương ấy – bởi ông ta quá cô độc.

Được viết bằng một ngôn ngữ tự do làm mê hoặc lòng người – đây cũng là lần đầu tiên Schiller sử dụng thể thơ không vần năm nhịp (blank verse) theo phong cách Shakespeare – vở kịch hầu như chỉ có những kẻ thất bại: Karlos, Posa, vua Philipp, hoàng hậu Elisabeth (người duy nhất có số phận thực sự xứng đáng được gọi là “bi kịch”), và cả Eboli, nữ thị tùng cung đình đầy mưu mô. Chỉ có một kẻ chiến thắng duy nhất, đó là Tòa án Dị giáo đáng sợ, công cụ của Giáo hội Công giáo đang chi phối tiến trình lịch sử, định chế đã đưa hơn 6000 tác phẩm kinh điển có giá trị vào danh sách cấm phổ biến.

Schiller có một tình bạn thâm sâu với Wolfgang von Goethe. Tình bạn giữa hai thi nhân đại tài là tình bạn có một không hai trong lịch sử văn học Đức. Dù cả hai đều là thi sĩ tài danh có nhiều cảm xúc đồng điệu, nhưng tình bạn đó không nảy sinh như một mối tình sét đánh. Họ đã quen nhau một thời gian khá lâu qua những lời chào hỏi bâng quơ. Mãi đến sau những bức thư trao đổi và nhiều buổi đàm đạo văn chương thơ phú, triết học, nghệ thuật, họ mới tìm thấy sự đồng điệu không thể tách rời nhau. Cả hai chịu ảnh hưởng lẫn nhau trong sự nghiệp sáng tác thơ văn. Họ thảo luận với nhau về các bản thảo vừa thành hình, góp ý cho nhau để tác phẩm được hoàn thiện, hỗ trợ cho nhau để triển khai những sáng kiến mới.

Hai thi sĩ tài danh này, mỗi người có một nhân sinh quan khác nhau, nếp sống và nhân cách cũng không giống nhau. Goethe quan tâm nhiều đến khoa học tự nhiên, gần gũi với đời sống thực và quan tâm đến sự cân bằng trong cuộc sống. Schiller thì có thiên hướng triết học, tích cực tìm hiểu về tự do, đạo đức và lý tưởng cuộc sống. Dù quan tâm trong đời sống thường nhật khác nhau như thế, nhưng cả hai đều có một lý tưởng chung về văn chương, đó là việc xây dựng mẫu người hoàn hảo, lý tính, cảm xúc, thẩm mỹ, sống hài hòa, tinh thần nhân bản và trách nhiệm đạo đức.

Đó chính là những yếu tố bền vững đã gắn kết hai thi sĩ tài danh này với nhau cho đến lúc Schiller rời bỏ cuộc đời lúc vừa mới 43 tuổi. Khi Schiller dời về sống ở Weimar năm 1787, cả Goethe và Schiller trở thành những thi sĩ được săn đón nồng nhiệt trong Thi đàn Weimar (Weimarer Musenhof). Cũng từ đây, tình bạn và sự hợp tác giữa Schiller và Goethe càng sâu đậm hơn. Chính sự hợp tác đó đã trở thành một bộ phận quan trọng trong sự phát triển văn học Đức ở hậu bán thế kỷ XVIII, và đặc biệt ghi lại dấu ấn trong trào lưu văn học Cổ diển Weimar. Chính tại Weimar, Schiller có thể kết giao với hàng chục nghệ sĩ tài danh và các học giả tiếng tăm của trào lưu khai sáng: Wolfgang von Goethe, Wilhelm von Humboldt, Gottfried Herder, Gottlieb Fichte, Ferdinand Huber v.v…

Schiller đọc thơ ở Thi đàn Weimar

Một trong những học giả danh giá thời đó mà Schiller kết giao là Immanuel Kant. Có lẽ phải nhờ đến sự bùng phát của căn bệnh hiểm nghèo vào đầu năm 1791 – căn bệnh mà 14 năm sau đã dẫn đến cái chết của ông – Schiller mới tìm con đường đi đến chủ nghĩa duy tâm của một học giả cổ điển. Chính con đường này đã giúp ông giữ được vị trí và sức sống lâu dài trong đời sống tinh thần ảnh hưởng lên các thế hệ sau, mặc dù trong suốt nhiều thập kỷ, ông đã phải chịu đựng không ít từ những cách diễn giải của các nhà nghiên cứu về mình.

Trên giường bệnh, Schiller bắt đầu nghiên cứu chuyên sâu các tác phẩm chủ yếu của Kant, trước hết là Phê phán năng lực phán đoán (Critik der Urtheilskraft), sau đó là Phê phán lý tính thực hành (Critik der practischen Vernunft). Ông cũng tìm hiểu kỹ lưỡng hơn những nội dung cơ bản của Phê phán lý tính thuần túy (Critik der reinen Vernunft). Schiller bị cuốn hút bởi nhà hiền triết đến từ quê hương Königsberg, nhưng ông vẫn tin rằng mình có thể làm sáng tỏ hơn một số chi tiết trong tư tưởng của Kant, thậm chí vượt qua ông ở một số điểm. Từ đó, những tiểu luận lớn lần lượt ra đời: Về vẻ duyên dáng và phẩm giá (Über Anmuth und Würde, 1793), Về giáo dục thẩm mỹ con người qua một loạt thư từ (Über die ästhetische Erziehung des Menschen in einer Reyhe von Briefen, 1794–1795) và Bàn về thơ ngây và thơ trữ tình cảm tính (Über naive und sentimentalische Dichtung, 1795).

Và sau các bài tiểu luận trứ danh đó, ngày 17 tháng 12 năm 1795, Schiller vui vẻ thông báo với người bạn tâm giao Goethe – vốn không đặc biệt quan tâm đến triết học – rằng: “Đã đến lúc tôi phải đóng cửa tiệm triết học một thời gian”. Sau quyết định ấy là một giai đoạn hoạt động sáng tác thi ca sung mãn của Schiller, kéo dài cho đến tận ngày ông mất vào năm 1805.

Schiller đã qua đời cách đây hơn hai trăm năm; giờ đây, người từng là đối tượng ưu ái trong văn hóa tưởng niệm của người Đức kể từ khi qua đời sẽ được vinh danh lớn lao. Vào sinh nhật lần thứ 100 của ông, ngày 10 tháng 11 năm 1859, toàn thể nước Đức đã xuống đường. Ngay cả ở Berlin người ta cũng tưởng nhớ đến ông. Tại quán trọ “Mäders Lokal”, nơi Schiller từng lưu trú vào tháng 5 năm 1804  trong chuyến thăm Berlin duy nhất của ông, hội văn học ngày Chủ nhật  “Tunnel unter der Spree” đã tề tựu đông đảo và nâng ly chúc mừng bằng bài thơ của thi sĩ Theodor Fontane:

Nếu chúng ta vẫn thiếu ngọn lửa thiêng liêng cao cả,
Thứ gột rửa tâm hồn chúng ta khỏi sự nhỏ nhen, khao khát,
Và hàn gắn chúng ta lại thành một cội nguồn;
Thì Schiller đến – thế là nước Đức được thống nhất.

Lịch sử thời hiện đại có thể xem là bắt đầu từ cuộc cách mạng Pháp năm 1789, và lịch sử này xem ra có vẻ ngắn ngủi, nếu chúng ta quan sát hành tinh chúng ta vẫn còn chiến tranh không dứt. Tuy thế, đó cũng là lịch sử của những sáng kiến về tự do, một thuật ngữ thiêng liêng mà chúng ta vẫn còn tôn thờ đến hôm nay. Và Schiller, một thi sĩ đấu tranh không ngừng nghỉ cho những sáng kiến về tự do, thường xuyên thể hiện trong các câu thơ, trong từng kịch bản sân khấu. Và cứ mỗi lần tưởng niệm ngày mất của Schiller trong những năm chẵn, chúng ta lại có dịp tìm thấy dáng dấp của thi sĩ tự do này khắp nơi. Ở các trường trung học, trong giảng đường đại học, trên sân khấu kịch nghệ, trong quốc hội, trong hàng chục hiệp hội mang tên ông và hàng ngàn bài tiểu luận trên nhật báo về Schiller. Trong tất cả các không gian tưởng niệm ấy, Schiller được vinh danh là một thi sĩ của tự do, một nghệ sĩ xứng đáng được đội vương miệng với vòng nguyệt quế tự do.

./.

Hoàng Lan – Tháng 10.2026

Trở về trang chủ
Xem thêm các bài viết và dịch của Tôn Thất Thông & Hoàng Lan Anh

Xin mời tải ba bài thơ của Schiller tại đây:

 https://diendankhaiphong.org/wp-content/uploads/2026/10/hl-03-ba-bai-tho-friedrich-schiller.pdf

Tài liệu tham khảo:

  1. BPB APUZ – Số đặc biệt về Friedrich Schiller – https://www.bpb.de/shop/zeitschriften/apuz/29191/schiller/#content-index
  2. Dennis – Friedrich von Schiller – https://www.literaturwelt.com/friedrich-von-schiller/
  3. Friedrich Schiller Archiv – https://www.friedrich-schiller-archiv.de
  4. Michael Krüger – Friedrich Schiller – Tạp chí Aus Politik und Zeitgeschichte.
  5. MDR Kultur – Friedrich Schiller: Những bài thơ và vở kịch nổi tiếng nhất – https://www.mdr.de/kultur/literatur/friedrich-schiller-beruehmte-werke-104.html
  6. Otto Dann – Friedrich Schiller ở Đức và châu Âu – Tạp chí Aus Politik und Zeitgeschichte.

***

Đến đây, xin mời các bạn thưởng lãm ba bài thơ hay của Schiller, do TS Phan Kim Hổ dịch và xuất bản trong tập “Nước Đức Cổ Tích Mùa Đông”, với lời diễn giải của dịch giả. Đặc biệt trong các bản dịch này là, ngoài hồn thơ vẫn còn giữ nét nguyên bản, cả cấu trúc thơ và cách gieo vần trong bản dịch cũng giữ nguyên như bản gốc.

*****

An die Freude (1785)
Friedrich Schiller  

Freude, schöner Götterfunken,
Tochter aus Elysium,
Wir betreten feuertrunken
Himmlische, dein Heiligtum.
Deine Zauber binden wieder,
Was der Mode Schwert geteilt;
Bettler werden Fürstenbrüder,
Wo dein sanfter Flügel weilt.  

Chor  
Seid umschlungen, Millionen!
Diesen Kuß der ganzen Welt!
Brüder – überm Sternenzelt
Muß ein lieber Vater wohnen.  
Wem der große Wurf gelungen,
Eines Freundes Freund zu sein;
Wer ein holdes Weib errungen,
Mische seinen Jubel ein!
Ja – wer auch nur eine Seele
Sein nennt auf dem Erdenrund!
Und wers nie gekonnt, der stehle
Weinend sich aus diesem Bund!  

Chor
Was den großen Ring bewohnet,
Huldige der Sympathie!
Zu den Sternen leitet sie,
Wo der Unbekannte thronet.  
Freude trinken alle Wesen
An den Brüsten der Natur,
Alle Guten, alle Bösen
Folgen ihrer Rosenspur.
Küsse gab sie uns und Reben,
Einen Freund, geprüft im Tod.
Wollust ward dem Wurm gegeben,
Und der Cherub steht vor Gott.  




Chor
Ihr stürzt nieder, Millionen?
Ahndest du den Schöpfer, Welt?
Such ihn überm Sternenzelt,
Über Sternen muß er wohnen.  
Freude heißt die starke Feder
In der ewigen Natur.
Freude, Freude treibt die Räder
In der großen Weltenuhr.
Blumen lockt sie aus den Keimen,
Sonnen aus dem Firmament,
Sphären rollt sie in den Räumen,
Die des Sehers Rohr nicht kennt.  

Chor
Froh, wie seine Sonnen fliegen,
Durch des Himmels prächtgen Plan,
Laufet, Brüder, eure Bahn,
Freudig wie ein Held zum Siegen.  
Aus der Wahrheit Feuerspiegel
Lächelt sie den Forscher an.
Zu der Tugend steilem Hügel
Leitet sie des Dulders Bahn.
Auf des Glaubens Sonnenberge
Sieht man ihre Fahnen wehn,
Durch den Riß gesprengter Särge
Sie im Chor der Engel stehn.  

Chor
Duldet mutig, Millionen!
Duldet für die beßre Welt!
Droben überm Sternenzelt
Wird ein großer Gott belohnen.  
Göttern kann man nicht vergelten,
Schön ists, ihnen gleich zu sein.
Gram und Armut soll sich melden,
Mit den Frohen sich erfreun.
Groll und Rache sei vergessen,
Unserm Todfeind sei verziehn,
Keine Träne soll ihn pressen,
Keine Reue nage ihn.  




Chor
Unser Schuldbuch sei vernichtet!
Ausgesöhnt die ganze Welt!
Brüder – überm Sternenzelt
Richtet Gott, wie wir gerichtet.  
Freude sprudelt in Pokalen,
In der Traube goldnem Blut
Trinken Sanftmut Kannibalen,
Die Verzweiflung Heldenmut
Brüder, fliegt von euren Sitzen,
Wenn der volle Römer kreist,
Laßt den Schaum zum Himmel sprützen:
Dieses Glas dem guten Geist.  

Chor
Den der Sterne Wirbel loben,
Den des Seraphs Hymne preist,
Dieses Glas dem guten Geist
Überm Sternenzelt dort oben!  
Festen Mut in schwerem Leiden,
Hülfe, wo die Unschuld weint,
Ewigkeit geschwornen Eiden,
Wahrheit gegen Freund und Feind,
Männerstolz vor Königsthronen –
Brüder, gält es Gut und Blut, –
Dem Verdienste seine Kronen,
Untergang der Lügenbrut!  

Chor
Schließt den heilgen Zirkel dichter,
Schwört bei diesem goldnen Wein:
Dem Gelübde treu zu sein,
Schwört es bei dem Sternenrichter!  
Rettung von Tyrannenketten,
Großmut auch dem Bösewicht,
Hoffnung auf den Sterbebetten,
Gnade auf dem Hochgericht!
Auch die Toten sollen leben!
Brüder trinkt und stimmet ein,
Allen Sündern soll vergeben,
Und die Hölle nicht mehr sein.  

Chor
Eine heitre Abschiedsstunde!
Süßen Schlaf im Leichentuch!
Brüder – einen sanften Spruch
Aus des Totenrichters Munde!  








Gởi niềm hoan lạc (1785)
Friedrich Schiller  

Hoan lạc, chớp sáng thiên thần kỳ vĩ,
Là con gái đảo Elysium1),
Ta bước vào, với say mê nồng cháy
Đến thiên đường nàng, chốn tôn nghiêm.
Phép mầu của nàng kết nối trở lại
Kiểu cách đời gươm đã tách ly;
Ăn mày thành anh em người quý phái, Nơi nàng sải đôi cánh diệu kỳ.  

Điệp khúc
Hãy ôm nhau đi, hàng triệu nhân thế! Nụ hôn này cho cả trần gian! 
Anh em – trên vòm trời sao vô vàn
Phải có chốn an thân Cha yêu quý.  

Ai đã đạt được một điều trọng đại,
Là bạn thân của người bạn thân;  
Ai đã giành được người vợ ưu ái,    
Thì cùng hòa nhịp tiếng hân hoan!
Vâng – ai mà gọi tâm hồn riêng lẻ
Là của riêng mình trên hành tinh!
Và ai đã không bao giờ có thể,
Phải khóc để rời khỏi liên minh 

Điệp khúc
Những ai sống trong cộng đồng rộng rãi,
Hãy trân trọng thân tình cho nhau! Được nàng dẫn dắt đến các vì sao
Nơi Người Ẩn Danh đang ngự trị.  

Tất cả chúng sinh uống niềm hoan lạc 
Từ bầu ngực thiên nhiên mênh mông, Tất cả tốt hay xấu, điều đen bạc
Theo nàng lần dấu vết hoa hồng.
Nàng ban ta nụ hôn và nho giống,
Một người bạn, trong chết thẩm tra.  
Sắc dục được trao cho loài sâu nhộng, Và thần Cherub2)trước Chúa cha.  

Điệp khúc
Các bạn đang té ngã, đến hàng triệu? Thế gian, trách Tạo Hóa lời nào?
Tìm Thượng đế trên vòm trời sao, 
Hẳn Ngài sống trên các vì tinh tú.    

Hoan lạc tức là lò xo bật mạnh
Trong thiên nhiên mãi mãi bền lâu. Hoan lạc, nàng vận hành bánh răng mảnh
Trong đồng hồ thế giới khổng lồ.   
Nàng nhử bông hoa ra khỏi mầm nụ, Ánh dương mọc khỏi bầu trời xanh, Nàng lăn những tinh cầu trong vũ trụ, Mà ống nhòm ​​không rõ ngọn ngành.  

Điệp khúc
Vui, khi các mặt trời Ngài bay thẳng
Qua bề mặt không gianphi thường,
Hãy chạy, anh em, theo đúng đường, Hoan lạc như anh hùng lập chiến thắng.

Từ tấm gương lửa thần của sự thật, Nàng nhìn nhà nghiên cứu cười chào. 
Và dẫn theo đường người chịu sống nhẫn
Đến đức hạnh dọc đồi dốc cao.
Trên núi mặt trời của lòng ngoan đạo Thấy cờ nàng phất phới bay gần,
Qua vết nứt các áo quan bị phá vỡ 
Nàng trong dàn hợp xướng thiên thần.  

Điệp khúc
Triệu người, hãy can trường ẩn nhẫn! Ẩn nhẫn cho đời tốt đẹp thêm!
Trên vòm trời sao lấp lánh đêm đêm
Vị thần vĩ đại sẽ chứng nhận.   

Thần thánh không thể được đền đáp Tuyệt vời khi cùng họ ngang hàng. Phiền muộn nghèo khổ nên đề cập,
Với nhiều vui thú để hân hoan.
Cứ quên đi báo thù và oán hận, 
Kẻ tử thù lầm lỗi bỏ qua,
Nước mắt không cần áp lực hắn,
Không hối hận nào dằn vặt hắn ta.  

Điệp khúc
Sổ nợ chúng ta rồi được khai tử!
Đã hòa hợp nhau cả địa cầu!  
Anh em – tận trên vòm trời sao
Thượng đế phán xử, như ta được xử.  

Niềm hoan lạc sủi tăm trong cốc vại, Trong máu ánh vàng của rượu vang
Kẻ hung tàn uống vàotính hòa ái, 
Còn nỗi tuyệt vọng tính anh hùng
Anh em, cứ vô tư bay khỏi ghế
Khi chàng La Mã khướt say quay,
Hãy để bọt tung vượt khỏi trần thế:
Cho vị thần tốt bụng cốc này   

Điệp khúc
Ta tán dương các vì sao lốc xoáy,
Bài tụng ca Seraph3) tôn vinh,
Cốc rượu vang này cho thần linh
Ngự ở bầu trời sao trên đấy!  

Trong đau khổ tột cùng cần dũng khí,
Hãy giúp nơi vô tội khóc sầu,
Những lời tuyên thệ trường tồn mãi mãi, Sự thật đối lại bạn và thù,
Niềm kiêu hãnh trước ngai vàng vua chúa –
Anh em ơi, xương máu hy sinh, 
Cần phải biết tôn vinh từng thành quả, Cội nguồn dối trá hãy tan tành!  

Điệp khúc
Hãy cùng siết chặt vòng tròn linh hiển, Thề với rượu vang sánh vàng nào:
Thề trước vị thẩm phán trời sao,  
Lời tuyên thệ trung thành vĩnh viễn!  
Sự giải thoát khỏi gông xiềng bạo chúa, Lòng bao dung với kẻ cường hào,
Niềm hy vọng trên giường người hấp hối,
Sự khoan hồng tòa án tối cao!  
Cả người đã chết cũng cần phải sống! Anh em hãy uống và hòa ca,
Tha thứ cả cho người mang tội trọng, Và rồi địa ngục sẽ phôi pha.  

Điệp khúc
Quả là giờ phút giã biệt vui vẻ! 
Trong vải liệm giấc ngủ an nhàn!
Xuất phát từ miệng của phán quan
Anh em ơi – một lời phán dịu nhẹ!  

Phan Kim Hổ dịch 02.12.2021

1) Elysium: là dạng La tinh hóa của Elysion, “hòn đảo của những người được ban phúc” trong thần thoại Hy Lạp.

2) Cherub: là một sinh vật huyền thoại có cánh trong Kinh Thánh, theo các tranh vẽ tôn giáo thời xưa là sinh vật nửa người nửa thú/chim, có chức năng bảo vệ.

3) Seraph: theo thần thoại Do thái / Kitô giáo, seraph là thiên thần có cấp bậc cao nhất trong số các thiên thần, thường được miêu tả có ba đôi cánh.

Bài thơ thuộc thể ngợi ca gồm 18 phân khúc, 9 phân khúc có 8 câu thơ mỗi phân khúc (câu chẵn 8 âm tiết, câu lẻ 7 âm tiết), luân phiên với 9 phân khúc (điệp khúc) có 4 câu thơ (câu 1, 4 có 8 âm tiết, câu 2, 3 có 7 âm tiết).

Mô hình vần: vần chéo abab cdcd trong phân khúc có 8 câu thơ, vần ôm abba trong phân khúc 4 câu thơ

Ghi chú:

“Gởi niềm hoan lạc” của Schiller có 108 câu thơ, là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của văn học Đức. Tác giả tôn vinh niềm hoan lạc, được xem như một tia sáng thần thánh, là yếu tố thiêng liêng có khả năng hòa giải, kết nối con người thuộc mọi tầng lớp xã hội. Schiller nói về niềm hoan lạc như là một sức mạnh phổ quát và ca ngợi nhiều biểu hiện của niềm hoan lạc như tình bạn, tình yêu hay sự trân quý thiên nhiên.

Niềm hoan lạc còn được Schiller miêu tả như là động lực của vũ trụ, “lăn tinh cầu trong vũ trụ” và “vận hành bánh răng trong đồng hồ thế giới”. Nội dung bài thơ cũng chịu ảnh hưởng của ý tưởng của trào lưu Khai sáng, khi tất cả mọi người gọi nhau là anh em và được yêu cầu thể hiện tình thân ái, sự tha thứ và rộng lượng đối với đồng loại.

Bài thơ do đó hàm ý tinh thần luôn lạc quan trong cuộc sống và đầy tính nhân văn. Phân khúc đầu của bài thơ được nhạc sĩ Ludwig van Beethoven phổ nhạc cho chương cuối cùng của Bản giao hưởng thứ 9 bất tử.

Hoffnung (1797)
Friedrich Schiller  

Es reden und träumen die Menschen viel
Von bessern künftigen Tagen;
Nach einem glücklichen goldenen Ziel
Sieht man sie rennen und jagen;
Die Welt wird alt und wird wieder jung,
Doch der Mensch hofft immer Verbesserung.

Die Hoffnung führt ihn ins Leben ein,
Sie umflattert den fröhlichen Knaben,
Den Jüngling locket ihr Zauberschein,
Sie wird mit dem Greis nicht begraben;
Denn beschliesst er im Grabe den müden Lauf,
Noch am Grabe pflanzt er – die Hoffnung auf.

Es ist kein leerer schmeichelnder Wahn,
Erzeugt im Gehirne des Toren,
Im Herzen kündet es laut sich an:
Zu was Besserm sind wir geboren.
Und was die innere Stimme spricht,
Das täuscht die hoffende Seele nicht.    


Hy vọng (1797)
Friedrich Schiller  

Con người nói và ước mơ không nghỉ
Về những ngày tốt đẹp trong tương lai; Ta thấy họ chạy theo và săn đuổi
Mục tiêu vàng hạnh phúc lâu dài;
Thế giới cứ già đi và rồi trẻ lại,
Nhưng con người luôn hy vọng đổi thay.

Hy vọng dìu con người vào cuộc sống, Bay vờn quanh chú bé hiền hòa,
Dụ dỗ chàng trai qua phép mầu ảo vọng,
Và sẽ không bị chôn lấp với cụ già;
Vì trong mồ cụ quyết chọn đường gian khổ,
Trồng hy vọng ngay trên chính nấm mồ.

Đó không là mơ cuồng tâng bốc hão, Được tạo ra trong não kẻ khù khờ,
Từ trong tim vọng lớn lời tuyên cáo:
Ta sinh ra để làm gì đó tốt hơn bây giờ. Điều mà tiếng nói bên trong thông báo, Không lừa được tâm hồn hy vọng chút nào.  

Phan Kim Hổ dịch 09/12/2021

Mô hình vần: ababcc trong mỗi phân khúc 4 câu thơ

Der spielende Knabe (1796)
Friedrich Schiller  

Spiele, Kind, in der Mutter Schooß! Auf der heiligen Insel
Findet der trübe Gram, findet die Sorge dich nicht
Liebend halten die Arme der Mutter dich über dem Abgrund,
Und in das flutende Grab lächelst du schuldlos hinab.
Spiele, liebliche Unschuld! Noch ist Arkadien um dich,
Und die freie Natur folgt nur dem fröhlichen Trieb,
Noch erschaft sich die üppige Kraft erdichtete Schranken,
Und dem willigen Muth fehlt noch die Pflicht und der Zweck.
Spiele, bald wird die Arbeit kommen, die hagre, die ernste,
Und der gebietenden Pflicht mangeln die Lust und der Muth.


Chú bé vui đùa (1796)
Friedrich Schiller  

Con ơi, cứ vui đùa trong lòng mẹ! Trên hòn đảo thánh thiện
Buồn phiền ảm đạm, âu lo sẽ không tìm ra con
Vòng tay mẹ yêu thương giữ con trên bờ vực thẳm,
Và con cười ngây thơ nhìn xuống huyệt nước dâng tràn.
Con cứ vui đùa, bé vô tội đáng yêu! Xứ Arcadia*) vẫn ở quanh con đấy,
Và thiên nhiên thoáng đãng chỉ theo động lực vui tươi,
Sức mạnh tràn trề còn tự dựng lên rào cản huyễn hoặc,
Và lòng dũng cảm sẵn sàng vẫn chưa có trách nhiệm và mục tiêu.
Con cứ vui đùa, rồi mọi việc sẽ đến, cả an nhàn lẫn nghiêm túc,
Mà nghĩa vụ phải làm lại thiếu sự hứng thú và tính can trường.  

Phan Kim Hổdịch 08/09/2023

Thể thơ tự do

Ghi chú:

*) Arcadia: là một tỉnh của nước Hy Lạp. Nghĩa bóng: nơi chỉ có hoan lạc, hạnh phúc